Trang Chủ, Dấu Chân lãng tử,

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

HOÀNG HOA THI TẬP - TÂM CHÁNH HOÀNG THỊ KIM CÚC (PHẦN 1)



HOÀNG HOA THI TẬP

VIẾT VỀ CHỊ TÂM CHÁNH HOÀNG THỊ KIM CÚC 
(PHẦN 1)





HOÀNG CÚC (tức Hoàng Thị Kim Cúc)
Ảnh chụp năm 16 tuổi 

 
HOÀNG CÚC (tức Hoàng Thị Kim Cúc)
Ảnh chụp năm 17 tuổi theo học Khóa Đỉều Dưỡng của trường Pháp dạy

HOÀNG HOA - HOÀNG THỊ KIM CÚC (ẢNH CHỤP 1923)


MỤC LỤC
1.     Tiền đề
2.     Hạnh ngộ
3.     Huyết thống họ Hoàng
4.     Liên hệ tâm giao
5.     Đến với GĐPT Việt Nam
6.     Tình yêu
7.     Hành Bồ tát đạo
8.     Đám tang
9.     Di sản để lại
10.Tưởng nhớ

TÁC GIẢ

Nơi này, cỏ thơm và nắng sớm
Súng và trúc yên động những vui buồn
Ai hay, phút giây thành hoài niệm
Nửa trời thương nay đã im nằm
(HTLT)

HTLT vẽ chân dung chị tâm Chánh Hoàng Thị Kim Cúc 1989 


 Ảnh gia đình HTLT đi phúng điếu Tang lễ chị Hoàng Thị Kim Cúc 1989



HOÀNG THIÊN LÃNG TỬ 1989



Những gì ta đã sống qua chỉ như dòng hoài niệm!
Tôi xem trọng giây phút của thực tại.
Những năm tháng đi qua, tôi đã đến với đời sống, không có điều kiện gì với bất kỳ ai. Tôi học ở cuộc đời nhiều thứ, nhiều lĩnh vực để chiêm nghiệm và cống hiến. Nhưng kỳ thực cuộc đời luôn muốn biến tôi thành kẻ xa lạ, vì thực sự nhiều khi ta sống mà có cảm giác như lạc vào thế giới xa lạ. Đó là lúc ta bắt gặp sự kỳ thị của con người.
Tôi với cuộc đời là một, tôi nhận chân như thế! Dù đang sống ở bất kỳ hoàn cảnh nào.
Những người thân luôn có mặt trong tôi dù họ đã đi thật xa.
Chị Hoàng thị Kim Cúc là một trong những người trong trường hợp đó, vì tôi nhận chân sự có mặt của Chị trong trái tim tôi: tinh khiết, diệu kỳ.
Tôi mang theo Chị suốt hành trình dài của mình. Đó không phải là gánh nặng, mà là ngọn lửa đã sưởi ấm tim tôi trong suốt lộ trình giá băng và hoang lạnh của đời sống.
Tôi viết về hồi ức này như chính tự tay mình thắp sáng thêm ngọn lửa ấy.
Ngọn lửa của tình yêu thương và sự bao dung hào phóng!

CHÂN DUNG HOÀNG THỊ KIM CÚC -
 TRANH SƠN DẦU DO HOÀNG THIÊN LÃNG TỬ VẼ


1. TIỀN ĐỀ:

Tôi là con thứ hai sau chị gái tôi, là Trưởng nam của gia đình đông con: 12 đứa con, 11 lần sinh (một lần sinh đôi), mất 4 đứa hồi còn bé, giờ còn 8: bốn con trai và bốn con gái.
Sinh tôi một tháng sau, nhân lễ cúng đầy tháng (khẩm tháng) ba tôi hứa sẽ cho Chị Cúc làm con nuôi, hứa rằng sau này tôi lớn lên cho ở hẳn với Chị. Chị Cúc tức Hoàng Thị Kim Cúc nổi tiếng là Người Chị Cả của Tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam, ba tôi hồi đó làm thư ký cho chị. Chị nguyên là giáo sư (cách học trò gọi giáo viên dạy Trung học thời Pháp thuộc)  trường Đồng Khánh Huế cũ (bây giờ là Trường Trung Học Trưng Trắc), chị dạy môn Nữ Công Gia Chánh, có viết thành sách hướng dẫn về đề tài này. Chị cũng nổi tiếng trên lĩnh vực văn học sử là có liên quan đến câu chuyện ly kỳ “Gái Quê” của Thi sĩ Hàn Mặc Tử mà người ta thường nhắc đến với cái tên: HOÀNG CÚC. Đây là dịp tôi viết về Chị, người Mẹ nuôi thân thương rất mực của tôi với nhiều vấn đề kỳ thú. 




 NGÔI NHÀ CỦA HOÀNG CÚC (tức Hoàng Thị Kim Cúc)
Ở THÔN VỸ DẠ HUẾ




2. HẠNH NGỘ:

Vào tháng chạp năm 1978, tôi tròn 16 tuổi, tôi đi cùng với Ba mang theo cuốc xẻn để ngang qua Vỹ Dạ, sau đó vào một làng cận kề phía sau cánh đồng bên bờ sông Bạch Yến để đi “chạp mộ” (dãy cỏ trên mộ) Ông Cao Bà Cao trong họ. Khoảng 10g trưa thì xong. Ba bảo: Ba dẫn con đi thăm “Chị Kim Cúc”.

Trong thể lệ sinh hoạt của Gia đình Phật tử Việt Nam, tổ chức thanh thiếu niên Phật tử, ngôi nhà chung của anh chị em cùng sinh hoạt học tập, cống hiến theo đường hướng Phật giáo, người nhỏ gọi người lớn bằng: Anh Trưởng, Chị Trưởng dù có lớn tuổi cách mấy. Đó là nét văn hóa ứng xử đặc biệt của GĐPT Việt Nam, đoàn thể duy nhất có mặt trên thế giới hình thành hộ trì Chánh pháp thuộc Phật giáo Việt Nam.

Đi vào một con hẽm nhỏ, có ngôi chùa sư nữ phía bên tay mặt, tôi thấy đề tên Phước Huệ. Lối xóm xanh mát, an bình có lũy tre xanh và thấp thoáng bóng cau. Hai bên là những mái ngói ẩn hiện trong ngôi vườn xinh xắn, có vườn cây ăn quả, vài luống rau xanh. Đi sâu vào trong hẽm nhỏ, cũng phía bên tay mặt tới ngôi vườn nhỏ hiện ra. Ba tôi gọi cửa có một cô bé ra mở cửa mời vào. Tôi chần chừ ngần ngại không dám vào. Hồi nhỏ, tính tôi rụt rè, rất e ngại gặp gỡ giao tiếp. Tôi tự ti là mình quá nhỏ bé so với thế giới xung quanh. Ba biết ý nên để mặc kệ tôi phía ngoài ngõ, Ba đi vào chào hỏi râm ran. Một hồi cô bé ra ngõ gọi tôi vào, tôi càng rụt rè hơn. 
Ngôi vườn xinh xắn, có cổng xây, cửa sắt khép hờ. Trước cổng có hàng dừa tỏa bóng, hàng rào được trồng bằng cây hoa cẩn (tức dâm bụt) gọt tỉa cẩn thận. Mảnh vườn nhỏ phía trước ngôi nhà được trồng nhiều loại hoa: hồng, huệ, thạch thảo, đồng tiền và đặc biệt có nhiều hoa cúc vàng. Phía sau là mảnh đất rộng hơn, trồng cây ăn quả và trồng rau xanh. Ngôi nhà nền cao lên tới bảy bậc cấp, chắc để tránh lũ lụt hằng năm. Mặt tiền có hành lang lượn tròn, đặt bàn trà nhỏ bằng cây mây.
Tôi bước lên mấy bậc cấp theo cái vẫy tay của chủ nhân đang đứng trên cao của bậc thềm.
Một người đàn bà lớn tuổi vồn vả gọi tôi, giọng cười khanh khách: “Nó lớn thế à, này Ánh à, cho về ở với chị nghe!” Tôi chẳng hiểu mô tê gì. Rụt rè, lễ phép dạ thưa chào hỏi.
Đó là một người đàn bà quý phái, có thân hình như vóc hạc, nhỏ nhắn, có mái tóc quấn vành theo lối cổ điển mượt mà, cử chỉ thanh thoát, đài các như một công nương. Giọng nói trong trẻo, rõ ràng. Chị có đôi mắt như hai viên ngọc sáng lấp lánh.Tôi càng ái ngại thêm vẻ quý phái bề ngoài của Chị. Ăn mặc gọn gàng nhưng sang trọng. Ấn tượng nhất là giọng cười, nếu không nhìn thấy mặt cứ tưởng là cô gái mười tám đang khúc khích cười.

Căn chính ngôi nhà dùng để thờ tự, phía trong có sảnh tiếp khách, kê một bộ bàn hình chữ nhật và chiếc devan bằng gỗ kiền bóng lộn. Chuyển tiếp phòng khách với phòng ăn là một vòng cung tròn được xây bê tông. Các cửa đều bài trí ô kiếng trong có rèm bằng vải ren phủ, gió bay phất phơ. Nhà bài trí đơn giản, thoáng mát và rất nên thơ.

Tôi chỉ nhớ là tôi ấp úng trả lời một tràng câu hỏi, câu được câu mất. Chị có cử chỉ thân thiện, hỏi han đôi điều về cuộc sống hiện tại của gia đình tôi thông qua Ba. Sau đó Chị mời hai cha con vào nhà uống trà xơi bánh mức hạt sen. Trong khi uống trà chị cứ khẽ nhìn tôi với ánh mắt ấm áp, trìu mến. Tôi có cảm giác như người thân đi xa trở về cùng ngồi bên bếp lửa nhà sưởi ấm mối tình thân.
Lần đầu gặp Chị Hoàng Thị Kim Cúc chỉ có thế!

Tuy chỉ có thế, nhưng nó khởi đầu cho một tình cảm thiêng liêng như Mẹ đối với Con. Đó là một mối dây ràng buộc kỳ diệu, khó có thể tách rời. Tôi đã đi suốt đoạn đường dài dưới tác động tình cảm của Chị, ảnh hưởng phong cách sống của Chị, Mẹ tinh thần của tôi, người yêu tôi vô ngần. Tôi cũng yêu Chị thắm thiết. Cả hai đều nhận chân điều đó.

Ảnh gia đình: 
 Cụ Hoàng Phùng và Bà Chánh thất Tôn Nữ Thị Khuê

 - Bên trái ảnh tính từ trong ra: Cậu cả Hoàng Toại (ở Mỹ), Anh trai: Hoàng Do, Em trai: Hoàng Tế Ngộ (ở Huế), Hoàng Hoan Nghinh (ở Hà Nội, nguyên Đại Sứ Quán Philippin)
 - Bên phải ảnh tính từ trong ra: : Trưởng nữ Hoàng Thị Mỹ Hạnh (nguyên Hiệu phó trường Đồng Khánh- Huế, định cư ở Mỹ), Hoàng Thị Tường Vy (ở Hà Nội), Hoàng Thị Kim Cúc, Em gái: Hoàng Thị Ngọc Anh (Ở Sài Gòn)

 
 
 Cụ Hoàng Phùng và cậu cả Hoàng Toại (ở Mỹ)



 
Bà Chánh thất Tôn Nữ Thị Khuê, bên phải: Trưởng nữ Hoàng Thị Mỹ Hạnh (ở Mỹ),
và bên trái cậu Quý tử (con trai út): Hoàng Tiêu Diêu (tức Hoàng Xuân Tùy, ở Hà Nội, nguyên Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp)

Từ bên trái sang: Trưởng nữ Hoàng Thị Mỹ Hạnh (nguyên Hiệu phó trường Đồng Khánh - Huế, định cư ở Mỹ), Hoàng Thị Tường Vy (ở Hà Nội) và Hoàng Thị Kim Cúc






Từ phải sang: Anh trai:  Hoàng Do (ở Hà Nội, sau 1975 về ở Vỹ Dạ - Huế), Em trai: Hoàng Tế Ngộ và Hoàng Hoan Nghinh (ở Hà Nội, nguyên Đại sứ quán Philippin)


 


Di ảnh Hoàng Do (anh ruột Hoàng Cúc)
Bức chân dung truyền thần do HTLT vẽ





HOÀNG CÚC VÀ EM GÁI HOÀNG NGỌC ANH



HOÀNG CÚC




Ảnh chị gái:  HOÀNG THỊ TƯỜNG VY (chứ không phải Hoàng Thị Kim Cúc)


  ẢNH CHỊ HOÀNG THỊ KIM CÚC
VÀ NGƯỜI CHÁU RUỘT: HOÀNG THỊ BÍCH TÂM (TỨC NGHỆ, ở Mỹ)  - 1974


HTLT VẼ SƠN DẦU CHÂN DUNG CHỊ HOÀNG THỊ KIM CÚC
TRƯỚC SÂN CHÙA PHƯỚC HUỆ, VỸ DẠ - HUẾ - 1989



CẢNH "VƯỜN NGỌC" Ở HUẾ








BỨC CHÂN DUNG HOÀNG THỊ KIM CÚC
DO ĐÌNH PHƯƠNG VẼ TRUYỀN THẦN 
(PHÒNG VẼ NGỌC DUY, 101B, PHAN ĐĂNG LƯU, TP. HUẾ)






黃 氏 金 菊
黃 德 整 慧 詩 題

黃 花 章 詩 賜
氏 得 唐 英 書
金 現 光 慈 德
菊 香 顯 真 如

庚寅年季春 – 1990

HOÀNG THỊ KIM CÚC
HOÀNG ĐỨC CHỈNH TUỆ thi đề

Hoàng Hoa chương thi tứ
Thị đắc đường anh thư
Kim hiện quang từ đức
Cúc hương hiển chơn như 
Canh Ngọ niên, Xuân nhật – 1990

Dịch:

HOÀNG THỊ KIM CÚC
HOÀNG ĐỨC CHỈNH TUỆ thi đề 
Hoàng Hoa thi tứ nhất chương
Thị như một đóa ngọc đường anh thư
Kim thời sáng láng đức từ
Cúc hương hiển hiện chơn như dâng đời

Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990



心 正 體 行
黃 德 整 慧 詩 題 
心 然 自 根 源
正 智 達 滿 圓
體 性 常 容 合
行 開 普 真 玄 
庚寅年季春 – 1990

TÂM CHÁNH THỂ HẠNH
HOÀNG ĐỨC CHỈNH TUỆ thi đề 
Tâm nhiên tự căn nguyên
Chánh trí đạt mãn viên
Thể tánh thường dung hợp
Hạnh khai phổ chơn huyền 
Canh Ngọ niên, Xuân nhật – 1990


Dịch:

TÂM CHÁNH THỂ HẠNH
HOÀNG ĐỨC CHỈNH TUỆ thi đề 
Tâm nhiên có tự căn nguyên
Chánh trí thông đạt mãn viên nguyện lòng
Thể thường rỗng lặng bao dung
Hạnh luôn mở lối diễn xương đạo mầu
Ngày Xuân, năm Canh Ngọ - 1990




CHÚ THÍCH:

THAY CHO TIỂU SỬ Hoàng Thị Kim Cúc

(Bài Tưởng Niệm 21 năm, Nữ Huynh trưởng cấp Dũng Hoàng Thị Kim Cúc tạm biệt mái Nhà Lam)

Ngày 3 tháng 2 năm 1989, tức ngày 27 tháng chạp Mậu Thìn, Nữ Huynh trưởng cấp Dũng Hoàng Thị Kim Cúc đã vĩnh biệt anh chị em về với cát bụi, Đến nay, đã 21 mùa xuân vắng bóng chị, Mỗi mùa xuân đến, chúng ta hãy cùng nhau dành một phút tưởng niệm đến Người chị kính yêu của Gia đính Phật tử Việt Nam
Chị Hoàng Thị Kim Cúc, pháp danh: Tâm Chánh, tự Thể Hạnh.
Sinh ngày mồng 8 tháng 11 năm Qúy Sửu (5/12/1913)
Thân phụ: cụ Hoàng Phùng, Thân mẫu là cụ bà Tôn Nữ Thị Khuê. Chánh quán làng Xuân Tùy, Thừa Thiên. Trú quán tại Thôn Vỹ Dạ, thành phố Huế.
Buổi thiếu thời, sau những năm theo chân Thầy mẹ công tác ở một số Tỉnh đàng trong, học xong bậc sơ học và tiểu học sau về Huế học trường Đồng Khánh hết cấp trung học rồi tiếp tục giảng dạy tại đây cho đến ngày lớn tuổi về hưu.
Vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình truyền thống nho phong cao quí, lại được nung đúc với niềm tin Phật dạt dào và sâu sắc, chị Hoàng Thị Kim Cúc trong khoảng thời gian trưởng thành gần 50 năm đã trọn vẹn đem hết tâm hồn, tình cảm và ý chí phục vụ cho lợi ích của mọi người, nhất là đối với giới trẻ trong bao cảnh giao động của đất nước vào những năm trước mùa thu năm 1945 và mãi cho đến tận bây giờ.

THỜI GIAN TỪ TRƯỚC 1945...
TRONG NGÀNH GIÁO DỤC.

Từ những năm ba mươi, bấy giờ chị Hoàng Thị Kim Cúc đang độ tuổi hai mươi, đủ bề công, dung, ngôn, hạnh, mặc dù vốn có một dẫn lực tân kỳ, đầy ý vị của “ngọn nắng mới lên” trong “Mảnh vườn xanh như ngọc”. Ở chị Hoàng Thị Kim Cúc như luôn nghe rõ bước đi lên của tâm thức mình, ngừng lại nơi đâu chỉ là tùy duyên, mà lòng trong sáng tiếp tục đi lên mãi là bất biến, ấy là tất cả cuộc đời của chị.
Bởi vậy cho nên từ khi rời ghế nhà trường cũ, Trường Nữ Trung học Đồng Khánh Huế, nơi đây là hầu như tâm điểm đào tạo độc nhất giới trẻ miền Trung và Huế thuộc phái nữ bấy giờ để có một trình độ kiến thức trước khi ra xã hội chen vai cùng nam giới xây dựng cuộc đời, xây dựng gia đình và đất nước.
Tại trường Đồng Khánh, thuộc thành phần giảng huấn, chị vẫn chỉ nhận một nhiệm vụ rất khiêm tốn là chăm lo giáo dục cho các nữ sinh có đủ khả năng làm tròn thiên chức người con gái, làm vợ, làm mẹ trong gia đình trước khi dấn thân vào các công tác xã hội. Chị thường phụ trách những ngành như giáo dục, y tế, dưỡng nhi, nữ công, gia chánh, tổ chức kinh tế và quản lý gia đình; vừa nghiên cứu vừa giảng dạy trong hơn ba mươi năm làm việc. Nữ giới Việt Nam thuộc lứa tuổi trung niên trở xuống ít ai không biết tên Chị; sách báo của Chị viết về các vấn đề hiện nay trong nước, ngoài nước chú ý vă xuất bản khá nhiều nơi như Huế, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Pháp, Hoa Kỳ.v.v.. có những ấn bản lên đến 20.000 cuốn.
Cuộc sống mỗi ngày cũng như mọi ngày, ít khi Chị được rãnh rỗi, vì ngoài việc giảng dạy Chị còn gánh vác nhiều công việc khác của Đoàn thể: vận dụng vốn hiểu biết từ nhà trường ra xã hội, từ xã hội xây dựng một lý tưởng gia đình cao hơn.

THỜI GIAN TỪ SAU 1945...
HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC ĐOÀN THỂ.

Giai đoạn 1945 trở về sau, đúng vào lúc thành phố Huế trải qua những ngày kinh hoàng, ly loạn: địch trở lại, dân chúng tứ tán, cuộc kháng chiến bùng nổ. Đến khi thành phố Huế tương đối ổn định vào những năm 1946, 1947, Chị trở về ngôi trường Đồng Khánh cũ với tâm trạng khắc khoải qua những ngày đối diện với cảnh xác xơ của thành phố từ cái vẻ tiêu điều của cảnh trí bên ngoài đến nỗi cô đơn, trống trải bên trong, giai đoạn này Chị Hoàng Kim Cúc cảm nhận sâu sắc lời Phật dạy về cái khổ, phương pháp diệt khổ, về Bát chánh đạo, về Lục độ, Thập nhị nhân duyên, để từ quan điểm nhân sanh và vũ trụ Phật giáo soi sáng cho chính mình, nâng cao kiến thức và đóng góp công sức xây dựng đoàn thể, sống kết hợp chặc chẽ, tương thân tương trợ theo tinh thần Phật giáo.
Cuối Đông 1946 và đầu Xuân 1947, Chị đã bắt đầu sinh hoạt thường xuyên với tổ chức Gia đình Phật hóa phổ Hướng Thiện, Gia đình đầu tiên sinh hoạt sau ngày hồi cư tại nhà Bác Phan Cảnh Tú có đầy đủ thành phần Thiếu niên, thiếu nữ và nam nữ Phật tử. Từ nơi này, Chị đã tận tụy chăm sóc chỉnh đốn tổ chức Ngành Nữ.
Đầu năm 1948, số lượng nam nữ thanh thiếu nhi Phật tử ngày căng đông phải chuyển nơi học tập và nhóm họp xuống trường tiểu học Thanh Long (nay là Trường Huỳnh Thúc Kháng) rồi lên trường tiểu học Thượng Tứ. Quá trình sinh hoạt tại hai nơi này, Chị đã tận tâm chăm sóc tổ chức, tích cực học tập, tham dự các lớp Phật pháp ngắn hạn, dài hạn mặc dù chưa muốn tự nhận mình là một đoàn viên chính thức.
Tháng 2 năm 1948, thời gian bước đầu tìm hiểu và nghiên cứu tổ chức với tư cách là bạn đoàn.
Mãi gần một năm sau, tháng 12 năm 1948, Chị chính thức nhận nhiệm vụ Đoàn trưởng đoàn nữ Hương Trang, làm ủy viên nữ Phật tử Gia đình Phật tử Thừa Thiên, rồi lần lược giữ các chức vụ:
          - Uỷ viên nữ Phật tử Ban hướng dẫn GĐPT Tổng Hội.
          - Phó Trưởng ban Hướng dẫn GĐPT Thừa Thiên kiêm Phó ban Hướng dẫn GĐPT Tổng Hội.
Trong suốt quá trình 10 năm thực hiện các nhiệm vụ đã ghi trên từ năm 1948 đến cuối năm 1958, với tư cách Huynh trưởng chị đã làm việc tích cực không bao giờ gián đoạn, mặc dầu sức khỏe có hạn, công việc nội bộ của đoàn thể càng ngày càng nhiều, tình hình bên ngoài biến chuyển đa đoan và phức tạp.
Năm 1956 lần đầu tiên Hội Việt Nam Phật học xếp cấp cho huynh trưởng GĐPT, chị được xếp vào hàng Huynh Trưởng cấp Tấn (Quyết định số 84 - HDTH/Ht ngày 13 tháng 03 năm 1956).

Tình hình bên ngoài đa đoan và phức tạp đến nỗi vai trò lãnh đạo chính GĐPT Thừa Thiên và Tổng Hội Phật giáo Trung Phần không thể giao cho một ai bên phía nam, mà chị Hoàng Kim Cúc phải nhận lãnh để đương đầu.
Năm 1962 chị nhận nhiệm vụ Trưởng ban Hướng dẫn cả hai cấp Tỉnh hội Thừa Thiên và Tổng hội Trung Phần. Tháng 8 năm 1964 băn giao công tác lãnh đạo GĐPT Trung Phần cho Ban Hướng dẫn GĐPT Trung ương.
Năm 1964, sau khi GĐPT Việt Nam thống nhất toàn quốc, chị được bầu vào ban lãnh đạo GĐPT Trung ương với chức vụ Phó Trưởng ban Hướng dẫn phụ trách Ngành Nữ toàn quốc, một công tác vô cùng trọng đại và khó khăn đối với chị vì tuổi càng ngày càng cao, sức khỏe yếu kém dần, lại thường xuyên ở Huế, khó lòng điều hành việc chỉ đạo Trung ương. Ngại rằng không chu toàn nhiệm vụ cho nên năm 1965 chị có thư xin Trung ương thay người khác nhưng không được chấp thuận cho nên phải đơn phương gánh vác trách nhiệm. Bao nhiêu thì giờ nghỉ ngơi trong các dịp nghỉ lễ lớn và toàn bộ thời gian nghỉ hè, Chị phải tập trung làm việc không hở từ công tác tổ chức thăm viếng, dự và mở các trại huấn luyện cấp Tỉnh khắp ba bốn mươi tỉnh Miền Trung và Miền Nam liên tục cho đến biến cố Mậu Thân năm 1968.

MƯỜI NĂM TỪ 1969 ĐẾN 1978
HUYNH TRƯỞNG CẤP DŨNG

Mùa Xuân năm Mậu Thân năm 1968 với những biến cố kéo dài chuyển biến cuộc sống từng địa phương đã là chùng bước sinh hoạt của GĐPT không ít, nhất là đối với ngành nữ, một phần do đời sống và vấn đề giao lưu liên lạc càng ngày càng khó khăn. Giai đoạn này với tư cách là cấp lãnh đạo cao nhất của ngành nữ , với tư cách huynh trưởng cấp Dũng do Trung ương phong, chị tự thấy không sao yên tâm ngồi nhìn đoàn thể cứ theo thời gian mà lặng khuất dần, mùa hè năm 1974, vượt qua mọi khó khăn, trắc trở, chị quyết tâm thực hiện một hành trình dài với kế hoạch hoạt động rộng rãi trong nhiều tỉnh miền Trung và miền Nam với chủ định thăm viếng, chấn chỉnh tổ chức hay mở lớp huấn luyện tùy theo yêu cầu từng địa phương. Chị đích thân lãnh đạo đoàn Huynh trưởng Trung ương bắt đầu rời Huế ngày 10 tháng 06 năm 1974 , sinh hoạt trong 45 tỉnh, thành: Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Bồng Sơn, Qui Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Lâm Đồng, Đà Lạt, Di Linh, Ba Mê Thuộc, Pleiku, Phú Bổn, Kontum...
Đến Kontum xem như đã hoàn thành tương đối tốt đẹp kế hoạch thăm viếng miền Trung, củng cố các tổ chức sinh hoạt ngành nữ GĐPT cả 3 hệ thống : Oanh Vũ, Thiếu nữ Phật tử và nữ Phật tử( thanh nữ ) . Chị lại chuẩn bị kế hoạch vào Nam . Tại miền Nam , GĐPT bấy giờ cũng đã được thành lập khắp nơi nhưng mọi sinh hoạt vì còn mới cần uốn nắn nhiều điểm nên công tác của Chị tại đây có phần vất vả nhất là vấn đề ổn định tổ chức cho thật quy cũ về cả hai mặt nhân sự bộ khung huynh trưởng các ngành và vấn đề huấn luyện huynh trưởng về mặt chuyên môn và trau dồi kiến thức Phật pháp. Chuyến đi Nam này đánh dấu một bước tiến quan trọng về mặt rộng lẫn chiều sâu trong lịch sử phát triển của GĐPT Việt Nam đến tận các miền xa xôi nơi cuối cùng của đất nước, chặng cực Nam cũng như cực Đông và cực Tây nơi mà cuộc sống tinh thần của quần chúng vốn chịu ảnh hưởng sâu nặng các trào lưu tín ngưỡng phức tạp. Những tỉnh miền Nam Chị đã đến, cùng các GĐPT địa phương có chiều sâu như Phước Long, Long An, Vũng Tàu, Sa Đéc, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Củ Chi, Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bạc Liêu, Cà Mau, Hồng Ngự, Rạch Gía, Long Khánh, Thủ Đức, Gia Ray, Vĩnh Nghiêm, Vĩnh Bình, Gia Định, Sài Gòn.
Bản đồ nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào mở rộng, khắp nơi đã sáng lên màu áo lam hiền hòa, dẫu rằng người xưa nói: “phụ nhân nan hóa” hay “thân gái dặm trường“ với Chị Hoàng Kim Cúc, dẽo dai vẫn nhẫn nại, cương nghị và đoan trang dưới lá cờ hoa sen trắng, đã làm việc không ngừng tư thế hành động, phong cách đối xử nhẹ nhàng, súc tích và ý nhị như làn hương sen từ đám bùn lầy, vươn lên bay trong gió Nam, tự tại và vô ngại.
Sinh hoạt của chị trong mùa sen nở năm 1974 có một giá trị điển hình về số lượng và chất lượng để cho thế hệ Thanh Thiếu Nhi phật tử Việt Nam đương thời và hậu tiến nhận chân và thấm thía rằng nếu Tổ quốc Việt Nam không thể thiếu hoa sen thì tuổi trẻ Việt Nam cũng không thể thiếu tấm lòng tin Phật, cũng như gia đình Việt Nam không thể thiếu những đàn con đức hạnh quả cảm, đầy vị tha.
Cuối năm 1974, bước sang đầu năm 1975 cả tâm hồn trí tuệ lẫn tình cảm của Chị có những hồi nghẹn thắc, hầu như trập trùng go lại, có lẽ cũng một tình trạng trập trùng, go lại của đất nước thời bấy giờ khi cuộc chiến đấu chung của dân tộc đang hồi kết thúc. Các nam nữ huynh trưởng , các Phật tử trong giới thanh niên tạm thời phân tán làm bổn phận và trách nhiệm khẩn cấp của mỗi người, Chị Hoàng Kim Cúc không có ai giao mà cũng chẳng nhờ ai ủy thác, tự xem như có trách nhiệm của người Chị trưởng cao nhất và trên tất cả mọi tình huống khác biệt, Chị hết lòng an ủi khuyến khích người sống, tưởng nhớ người đã khuất, duy trì giềng mối tổ chức, giữ gìn tài liệu, thành tích của GĐPT Việt Nam trong quá trình hơn 30 năm sinh hoạt về mọi mặt : con người, hành chánh, văn nghệ, văn hóa...

Sau năm 1975, các năm 1976, 1977 và mãi tận mười năm sau những sinh hoạt của chị vẫn đại khái như trên, dẫu cốt cách, đạo phong cuộc đời người huynh trưởng cao cả của chị bề ngoài có phần nào phôi phai vì thời cuộc nhưng bên trong, tự đáy lòng chị, từ tâm hồn chị đã khắc sâu và sáng hơn bao giờ hết những dòng sắc sảo : Tất cả cho lý tưởng người huynh trưởng. Người huynh trưởng lớn lao với hàng triệu các em đồng đạo âm thầm và bền bĩ đã sống, đang sống và sẽ sống mãi như đời Chị.
Mùa Đông Mậu Thìn năm 1988, sau một chuyến sinh hoạt thăm viếng tại miền Nam chị lâm nạn, Chị được đưa về Huế khi bệnh tình khá trầm trọng, dẫu tuyệt nhiên không nói được một lời, nhưng Chị còn có thể nhìn, còn có thể chảy nước mắt khi hé mở thấy các em lớn nhỏ của Chị đến thăm bên giường bệnh Chị cứ nhìn và chảy nước mắt như thế cho đến lúc 12 giờ ngày 27 tháng 12 năm Mậu Thìn tức ngày 3 tháng 2 năm 1989 chị trút hơi thở cuối cùng!
Ôi! Thôi rồi, đời chị đến nay đã kết thúc!
Kể từ ngày 05/12/1913 khi mầm cúc vàng hé mở đến ngày cây cúc vàng nằm xuống sau 75 mùa xuân tiếp nhận ánh sáng mặt trời, cũng là bảy mươi lăm mùa Xuân đạo hạnh trong vườn Xuân ấm của Gia Đình Phật Tử Việt Nam .
Không những bảy mươi lăm mùa Xuân đời chị đủ cả hương hoa đạo hạnh mà 75 mùa Hạ của đời Chị cũng là 75 mùa sen nở tinh khiết và trong trắng vô cùng.
Không những 75 mùa Hạ đời Chị có sen nở trắng trong và tinh khiết mà 75 mùa Thu của đời Chị cũng là 75 mùa hiếu hạnh mỗi bận lá vàng rụng và Vu Lan về.
Không những 75 mùa Thu đời Chị có lá vàng và tấm lòng vàng chí hiếu mà 75 mùa Đông của đời chị cũng là 75” Mùa hoa đạo” trang nghiêm và thơm ngát.
Thật vậy đời chị là bảy mươi lăm mùa hoa đạo, quanh năm Xuân, Hạ, Thu, Đông vốn được nuôi dưỡng giữa khung cảnh sắc hương trang nghiêm. Do Hương Trang vốn là tên một đoàn nữ Phật tử đầu tiên do chị điều khiển khi chị mới làm huynh trưởng và cho đến nay sau hơn bốn mươi năm phục vụ đạo pháp, hiến trọn cuộc đời cho Gia Đình Phật Tử đã có hàng trăm đoàn Hương Trang như vậy nối tiếp ra đời, làm cơ sở vững chắc nối tiếp sự nghiệp của Chị trong bất cứ tình huống khó khăn nào, cho dù sự tướng có biến chuyển nhưng bản chất vẫn là một.

Kính thưa chị Hoàng Kim Cúc kính mến!
Chúng em xin vài nét vụng về ôn lại cuộc đời cao quí của Chị cũng có nghĩa là ôn lại một sự nghiệp lâu dài và trọn vẹn của một thế hệ trẻ tin Phật, đưa đạo về với gia đình làm nền tảng cho xã hội Việt Nam tốt đẹp.
Sống thì chị ở, thác thì chị về, Chị vẫn còn mãi trong tim chúng em, chúng em xin nguyện một lòng theo gương chị, làm sáng tỏ đời Chị.
Và xin nguyện trọn đời cống hiến cho tổ chức GĐPT, cho màu Lam yêu thương. Nguyện cầu cho tất cả chúng ta mãi mãi được an lành trong hương sen thơm ngát bất diệt của chư Phật.

Tu Thư - Thừa Thiên Huế

Bài đăng trên Kỷ yếu Trại Ngành Nữ 2008



Sự thật về mối tình Hàn Mặc Tử - Hoàng Thị Kim Cúc
và bài thơ "Ở đây thôn Vỹ Dạ"

Nhà giáo, cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc

Lâu nay, khá đông người cho rằng thi sĩ Hàn Mạc Tử và nhà giáo kiêm cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc từng có một tình yêu đôi lứa. Lắm sách báo ghi nhận như vậy. Ngay cả lối sống khá đặc biệt của Kim Cúc - suốt đời độc thân, làm thơ tặng Hàn, chẳng chuyện trò điều này với người trong nhà... - càng khiến dư luận nghĩ vậy.
Với Kim Cúc, Hàn từng gửii thư và hai áng thơ mà thiên hạ lưu truyền với nhan đề Đây thôn Vỹ Dạ Đừng cho lòng bay xa.

Nhưng bằng hệ thống tư liệu phong phú và xác thực, tác giả Phanxipăng chứng minh rằng Hàn yêu đơn phương Kim Cúc, đồng thời khẳng định nhan đề chính xác hai áng thơ kia là Ở đây thôn Vỹ DạSao, vàng sao.
Giai đoạn 1928-1930, Nguyễn Trọng Trí - sau trở thành nhà thơ Hàn Mạc Tử(1) - về Huế nội trú tại trường Pellerin(2) để dùi mài đèn sách hai niên khóa cuối bậc tiểu học (3). Sau khi đỗ kỳ thi tiểu học yếu lược vào tháng 6/1930, Nguyễn Trọng Trí được cấp bằng Certificat d’études primaires franco-idigènes/Pháp Việt sơ học văn bằng ngày 26/12/1930. Kế đó, Nguyễn Trọng Trí vào phố biển Quy Nhơn, sống cùng gia đình. Năm 1932, chàng xin làm tập sự tại Phòng Địa chính Quy Nhơn trực thuộc Sở Địa chính tỉnh Bình Định - cơ quan được dân gian thuở bấy giờ quen gọi là Sở Đạc điền. Nguyễn Trọng Trí được phân công làm thư ký công nhật ở bộ phận bảo tồn điền trạch.


Soạn Đôi nét về Hàn Mạc Tử(4), Quách Tấn ghi nhận: “Khi Tử làm Sở Đạc điền Quy Nhơn, Tử có yêu một thiếu nữ ở cùng một con đường - đường Khải Định(5) - biệt hiệu là Hoàng Cúc.

Hàn Mạc Tử - Hoàng Hoa: tình đơn phương




Nàng mang họ tên đầy đủ là Hoàng Thị Kim Cúc, ái nữ của Tham tá Hoàng Phùng - thuở nọ đảm trách chức vụ Giám đốc Sở Đạc điền Quy Nhơn. Với nguồn tư liệu hiện thời, tôi chưa hề thấy Hoàng Thị Kim Cúc mang biệt hiệu Hoàng Cúc bao giờ cả. Biệt hiệu của nàng là Hoàng Hoa. Có lẽ bắt nguồn từ những câu thơ Hàn viết thuở tương tư nàng. Như bài tứ tuyệt Hoa cúc:

Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa,
Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha.
Vẻ mặt khác chi người quốc sắc,
Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta.


Hoặc rõ rệt hơn là trong bài Sao, vàng sao - bấy nay lưu hành dưới nhan đề không đúng bản gốc là Đừng cho lòng bay xa - mà Hàn từng gởi “tiểu thư khuê các”:

Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía,
Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây,
Hương ân tình cho kết lại thành dây,
Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu


Sinh thời, Hoàng Thị Kim Cúc thỉnh thoảng cũng sáng tác thơ và ký bút danh Hoàng Hoa, hoặc Hoàng Hoa thôn nữ, hoặc H.H.

Hoàng Thị Kim Cúc chào đời ngày 5/12/1913 nhằm mùng 8/11 năm Quý Sửu. Hàn Mạc Tử chào đời ngày 22/9/1912 nhằm ngày 12/8 năm Nhâm Tý 1912. Khoảng cách tuổi tác như thế, theo quan niệm dân gian quả rất xứng đôi vừa lứa: “Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một”. Lứa thì vừa đấy, song chàng với nàng chẳng hề “đôi lứa xứng đôi” - dẫu chỉ xứng đôi trên tình trường như nhiều người bấy lâu ngộ nhận. Sự nhầm tưởng kia, trớ trêu thay, lại xuất phát từ những hồi ký do thân bằng quyến thuộc của Hàn viết và công bố sau khi Hàn mất!
Để bạn đọc tiện khám phá sự thật vấn đề, tôi xin sao lục mấy lá thư của chính người trong cuộc là Hoàng Thị Kim Cúc.

Thư đề ngày 13/3/1971 gởi Quách Tấn: “Hồi đó Tử thường đến chơi với Hoàng Tùng Ngâm là em chú bác với tôi. Bạn Ngâm đông lắm. Trong gia đình tôi, không ai để ý đến bạn của Ngâm. Câu chuyện tâm tình của Tử, trừ Ngâm ra, cũng không ai biết. Tôi được biết trước khi thầy tôi sắp về hưu, do một người bạn khác nói lại, chứ không phải Ngâm.”

Thư đề ngày 15/4/1971 gởi Quách Tấn: “Hồi ấy tuy nhà Tử ở gần tôi, song Tử và tôi cách xa nhau như hai ngọn núi, Tử thì kín đáo và bẽn lẽn như con gái, còn tôi thì bí mật và xa lạ như cung trăng! Tuy thế Tử cũng đã tìm cách để gặp, nhưng rồi vẫn cũng chưa toại nguyện (…). Năm 1936, khi Tử ở Sài Gòn về Quy Nhơn, tôi vẫn còn ở Quy Nhơn đến mấy tháng sau mới về Huế.”

Thư đề ngày 15/10/1971 gởi Quách Tấn: “Về tuồng cải lương(6) thì tôi được biết do đoàn Dạ Lý Hương đóng vào đầu năm 1970 (hồi đó tôi vào Sài Gòn được nghe nhiều người kể lại, trong đó có bác sĩ Lê Khắc Quyến kể nữa) và lần lượt đã trình diễn trên tivi khoảng mấy tháng sau tại các tỉnh miền Trung. Họ đã diễn tả đúng đoạn văn của ông trong tập Văn số 73 trang 93. Nghĩa là họ diễn đoạn Tử nhờ người đến cầu hôn bị ông bà thân nhà gái từ chối, hất hủi, vì lẽ Tử không xứng mặt đồng sàng! Cô Cúc không có trong vở tuồng, không xuất hiện trên sân khấu, chỉ có ông bà thân của cô và Tử thôi. Ông bà đã lột hết tài nghệ phơi bày rõ rệt tâm địa của con người chỉ biết tiền, ham danh vọng, khinh miệt người, hống hách… Như vậy, ông đã thấy rõ, vì động chạm sai lạc đến thầy mẹ tôi và Tử nên tôi mới lên tiếng, chứ không phải vì tôi!”
  


Thủ bút Hoàng Thị Kim Cúc trong thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín.
Thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín - em ruột Hàn: “Vào đầu năm 1936, sau khi ông trợ Cát là cậu tôi ghé nhà chơi, lúc ra về bỏ quên thư của Tử gởi cho cậu tôi mà nội dung chỉ nói về chuyện tâm tình của Tử. Tử có tới gặp tôi 2 lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ hai, Tử mạnh dạn trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ Bâng khuâng với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ. Tôi bàng hoàng rồi cũng rụt rè từ chối, không nhận sách, không nhận thư (…). Gần cuối năm 1936, khi Tử về dự hội chợ Huế, mang theo một xấp Gái quê vừa in xong, có gặp tôi cùng đi với anh em tôi trong hội chợ. Tử đưa tặng anh em tôi mỗi người một tập, có đề chữ tặng, không tặng tôi mà chỉ yên lặng nhìn! Mấy hôm sau, Ngâm cho biết: Tử có về nhà tôi ở Vỹ Dạ mà lại đứng ngoài ngõ nhìn vô, rồi từ đó chúng tôi không gặp nhau, lại không thư từ, thăm viếng, hứa hẹn, mỗi người một ngả, cách xa nhau như hai ngọn núi (…). Nếu không có bức thư ông trợ Cát để quên ở nhà tôi thì có lẽ tôi vẫn dửng dưng vô sự. Và Ngâm cũng không nói gì với tôi về mối tình của Tử. Ngâm thấy không thể giấu được nên mới kể đại khái rằng: ‘Trí nó cảm chị lâu rồi, từ hôm chị bán gian hàng ở hội chợ của Tòa sứ Quy Nhơn tổ chức (…). Trí đã nhờ Ngâm đưa thư cho chị, Ngâm không đưa. Trí nhờ nói với chị về nỗi lòng, Ngâm từ chối. Trí làm thơ tặng chị đăng trong báo Phụ nữ tân văn, Ngâm cắt mấy bài thơ rồi mới đưa báo cho chị (…). Thật tội cho thằng Trí! Nó kể cho em nghe nhiều nhiều, mà Ngâm đâu có nói gì với chị, vì Ngâm không muốn làm bận rộn tâm trí chị, khi thấy chị chưa nghĩ gì về chuyện yêu đương!’. Thật thế, lúc đó tôi đã 21 tuổi rồi(7) mà sao còn quá ngơ ngác!”

Thư đề ngày 11/5/1988 gởi Hoàng Toại - anh cả của Hoàng Thị Kim Cúc: “Lâu nay em chưa có dịp kể cho anh nghe và em cũng không kể cho ai hết, tuy thế đã có nhiều người biết chuyện, biết qua sách báo sai lạc, biết qua sự phỏng đoán và tưởng tượng của họ. Câu chuyện xảy ra trên nửa thế kỷ rồi anh nợ, em cũng im lặng cho nó đi qua, vì câu chuyện thuộc về dĩ vãng. Không ngờ mấy năm sau đây mấy nhà viết sách tìm tòi moi móc, moi những chuyện không đúng sự thật như bài báo của Kiêm Đạt ở bên đó(8) mà anh đã cắt gởi về cho em coi chẳng hạn (…). Hồi em ở Quy Nhơn với ba, Hàn Mạc Tử có để ý đến em, nhờ Ngâm hỏi ý kiến em, Ngâm không hỏi. Anh ấy kiếm cách gặp em kể lể nỗi niềm, em thấy trước là câu chuyện không đi đến đâu nên từ chối. Câu chuyện chỉ có chừng nấy, em yên trí là không liên quan gì với nhau nữa, không dè thi sĩ cứ thầm yêu trộm nhớ, làm thơ rồi nhờ bạn bè tặng sách báo cho em, em vẫn cứ im lặng, không trả lời trả vốn (…). Sau khi Hàn Mạc Tử qua đời, Ngâm mới kể rành mạch nỗi lòng của Hàn Mạc Tử đối với em. Em hết sức cảm kích và vô cùng ngậm ngùi. Anh có nhớ hồi anh làm ở văn phòng nào đó, ông Trần Tái Phùng cũng làm một chỗ với anh, một hôm anh đi làm về, đưa cho em một tờ giấy nhỏ có ghi hai câu thơ của Hàn Mạc Tử do ông Trần Tái Phùng đưa cho anh đem về hỏi em. Hai câu thơ đó là:

Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá
Muốn ôm hồn Cúc ở trong sương.


Em xem xong chỉ cười mà không trả lời (…). Hôm nay em mới kể câu chuyện tâm tình đó với anh, kể ra cũng quá chậm, song chắc anh cũng hiểu tâm trạng em mà hoan hỷ cho em (…). Kha Anh, Kha Em hay Em Nhỏ thì có biết chuyện, song cũng biết lơ mơ vì em không nói chi hết; mấy em ở trong nhà cũng chỉ biết qua sách báo (…). Trong gia đình, anh là người đầu tiên mà em kể chuyện tâm tình của em”.

Qua trích đoạn năm lá thư của người trong cuộc, ắt bạn đọc đủ cơ sở để kết luận, mối tình đầu Hàn Mạc Tử dành cho Hoàng Hoa chỉ là tình đơn phương. Trao đổi với tôi về chuyện này, một bạn thân của Hàn Mạc Tử là nhà văn Trần Thanh Địch(9) thuở sinh tiền nhận định:

- Năm 1941, ngay sau khi Hàn qua đời, anh Trần Thanh Mại soạn sách Hàn Mạc Tử(10) đã có đoạn kết tiên đoán rất đúng: “Tôi vẫn biết trước, trong một ngày không lâu, người ta sẽ dành nhau cái vinh dự xây dựng cho thi sĩ Hàn Mạc Tử những chiếc thánh giá vĩ đại, đến cả những lăng tẩm nguy nga nữa”. Tham dự một số buổi lễ kỷ niệm Hàn Mạc Tử được tổ chức đó đây trong thời gian qua, chắc anh Phanxipăng đã chứng kiến cảnh mấy phụ nữ tranh nhau tự nhận là “nàng thơ”, là “tình nhân” của thi sĩ quá cố. Thói đời mà! Thế nhưng, chị Cúc thì khác. Chị không nhận những gì mình không có. Tôi cho đó là đức tính trung thực đáng quý. Và nhiệm vụ của các cây bút ngày nay là hãy cố gắng đem “cái gì của César trả lại cho César.”
Thiết tưởng cần soi sáng thêm đôi điểm về nhân thân Hoàng Thị Kim Cúc cùng một vài nhân vật liên quan từng được đề cập trong năm bức thư trên. Biết đâu đôi điểm này lại có khả năng là một trong những “chìa khóa” giúp chúng ta “giải mã” phần nào hành trạng và tác phẩm của Hàn thi sĩ.

Nhiều người dân Huế hiện tại vẫn còn nhớ Hoàng Thị Kim Cúc ít nhất ở hai cương vị, nhà giáo và nữ cư sĩ.(11) Lật lại các tuyển tập Đồng Khánh mái trường xưa do Ban Liên lạc cựu học sinh Đồng Khánh, Huế, nay là Trường Trung học Phổ thông Hai Bà Trưng, thực hiện từ năm 1992 trở đi, chúng ta bắt gặp những dòng hồi ức của bao thế hệ học trò về “hình ảnh dịu dàng, vóc dáng nhỏ nhắn, vui vẻ ân cần nhưng cũng rất nghiêm khắc của cô Hoàng Thị Kim Cúc, cô giáo đầu đàn của bộ môn nữ công gia chánh thời ấy”(12). Hoàng Thị Kim Cúc cũng là tác giả bộ sách Món ăn nấu lối Huế(13) được nhiều người đọc và áp dụng.

Thời ấy, nếu Hoàng Thị Kim Cúc đến Trường Đồng Khánh được các nữ sinh kính cẩn thưa “cô”, thì lúc ra đường, Hoàng Thị Kim Cúc thường được nhiều thanh thiếu niên gọi thân tình bằng “chị”. Đó là cách xưng hô phổ biến của mọi đoàn sinh đối với các nữ huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam(14). Chị Cúc là huynh trưởng với chức vụ Phó ban Hướng dẫn Trung ương Gia đình Phật tử Việt Nam, phụ trách ngành nữ từ năm 1947. Như vậy, cư sĩ không chỉ tu tại gia mà còn tích cực hoạt động xã hội.

Tôi gặp chị Cúc lần đầu tại đồi thông chùa Từ Hiếu (Huế) trong hội trại mang tên Hoài Nhân do Gia đình Phật tử Việt Nam tổ chức năm 1974. Sau đó, chúng tôi đôi lần ghé thăm chị ở nhà riêng tại Vỹ Dạ, mà lần cuối cùng là lúc chị nằm thoi thóp trên giường bệnh sau vụ tai nạn giao thông xảy ra tại TP Hồ Chí Minh ngày 11/8/1988 rồi được chuyển về Huế ngày 23/9/1988. Ngày 3/2/1989, tức 27 tháng Chạp năm Mậu Thìn, Hoàng Thị Kim Cúc - pháp danh Tâm Chánh - lìa trần, hưởng thọ 76 tuổi. Lễ di quan diễn ra ngày 15/2/1989, nhằm ngày mùng 10 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ. Lúc ấy, tôi ở xa Huế nên không dự được. Vậy xin dẫn đoạn tường thuật đám tang Hoàng Thị Kim Cúc do Mai Văn Hoan viết: “Có lẽ đó là một trong những đám tang lớn nhất ở Huế gần đây mà tôi được biết. Đoàn xe tang nối dài từ Đập Đá đến Trường Quốc Học. Quanh xe tang đính nhiều câu đối ca ngợi phẩm hạnh của bà. Tôi còn phát hiện có những bài thơ của các nhà sư họa lại bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ”(15).

Ngoài ông anh cả là Hoàng Toại định cư ở nước ngoài, Hoàng Thị Kim Cúc còn có mấy người anh ruột tập kết ra Bắc sau hiệp định Genève 1954: Hoàng Xuân Tùy (nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục), Hoàng Hoan Nghinh (nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Philippines). Người em ruột Hoàng Tế Ngộ ở lại Huế, trước khi quy tiên từng là “thủ từ” trong ngôi nhà mà chị Cúc từng sinh sống.

Anh em chú bác của Hoàng Thị Kim Cúc có Hoàng Tùng Ngâm vốn là bạn thân cùng nguyên quán Thừa Thiên, cùng tuổi Nhâm Tý (1912) và cùng làm chung Sở Đạc điền Quy Nhơn với Hàn. Năm 1954, Hoàng Tùng Ngâm tập kết ra Bắc, đổi tên là Hoàng Thanh Trai và từng làm đại sứ nước ta tại Ai Cập rồi tại Sri Lanka. Tết Bính Thìn (1976) thì mất ở Hà Nội.(9) Năm 1939, chính nhờ “xúc tác” của Hoàng Tùng Ngâm, Hàn đã hứng khởi sáng tạo một số áng thơ tặng Hoàng Thị Kim Cúc - trong đó có Ở đây thôn Vỹ Dạ, một tác phẩm gây nhiều tranh luận lâu nay.


Áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ - nhan đề nguyên tác cùng một số lời bình

Năm 1992, ba cuộc hội thảo lớn được tổ chức ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nhằm nhìn lại và đánh giá 60 năm phong trào Thơ mới. Ban tổ chức đã đề nghị các nhà thơ, nhà nghiên cứu - lý luận - phê bình bỏ phiếu chọn những bài Thơ mới hay nhất. Kết quả cuối cùng, Ở đây thôn Vỹ Dạ của Hàn lọt vào “top 18”.

Quanh áng thơ nổi tiếng này, lâu nay rộ lên nhiều cuộc tranh luận sôi nổi - nhất là từ khi tác phẩm được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đưa vào giảng dạy chính thức trong chương trình lớp 11 bậc trung học phổ thông. Theo dõi các cuộc tranh luận đó, tôi nhận thấy một số chi tiết bị nhầm lẫn rất đáng buồn. Tại sao? Có nhiều lý do. Hai trong những lý do quan trọng là thiếu thực tế và thiếu tư liệu tham khảo cần thiết.

Điều nhầm lẫn phổ biến đầu tiên nằm ở… nhan đề bài thơ! Nguyên tác, Hàn viết Ở đây thôn Vỹ Giạ chứ không phải Đây thôn Vỹ Dạ như sách báo - kể cả giáo khoa và giáo trình - vẫn in. Địa danh có thể chỉnh sửa cho thống nhất chính tả: Vỹ Dạ hoặc Vĩ Dạ thay vì Vỹ Giạ(16). Còn chữ Ở hà cớ gì bị lược bỏ? Nếu muốn gọn hóa tối đa, Ở đây thôn Vỹ Dạ rất dễ biến thành Thôn Vỹ chăng?

Nhà văn Trần Thanh Địch nhận xét:

- Chữ Ở được Hàn dùng có chủ đích. Đọc kỹ bài thơ mới thấy chữ đó nhấn mạnh đến thôn Vỹ: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh. Tùy tiện “biên tập” cả “titre” mà không được tác giả ưng thuận là tối kỵ. Chuyện như vậy xảy ra không ít đối với tác phẩm của Hàn! Như bài Sao, vàng sao - một bài thơ khác mà Hàn gởi tặng chị Cúc - lâu nay cứ bị “chụp” cái tên Đừng cho lòng bay xa.

Cả hai áng thơ vừa nhắc đều được Hàn Mạc Tử đưa vào tập Thượng thanh khí, chứ chẳng phải tập Thơ điên (tức Đau thương). Đây là một nhầm lẫn khác mà đa số tuyển thơ cùng nhiều bài viết vẫn mắc phải.

Trong cuốn Thơ Hàn Mạc Tử và những lời bình(17), Mã Giang Lân lại cho rằng Ở đây thôn Vỹ Dạ vốn in lần đầu trên giai phẩm Nắng Xuân năm 1937. Hỡi ôi! Bài thơ được hoàn tất năm 1939, liệu có thể công bố trước hai năm chăng?

Thậm chí có người, như Vũ Quần Phương qua lời tựa tập Hàn Mặc Tử - thơ với tuổi thơ(18), nghĩ rằng áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ mang vẻ đẹp “trong trẻo” và thể hiện bằng giọng điệu “bình tĩnh” nên tin chắc đây là một sáng tác thuộc giai đoạn đầu của Hàn, giai đoạn thân chưa phát bệnh và thơ chưa phát “điên”. Thật ra, Hàn lúc này đang đau khổ lánh mình với nguồn thơ úa mãi hai hàng lệ(19) rồi lâm chung sau đấy đúng một năm tròn!

Hiểu rõ xuất xứ cùng hoàn cảnh sáng tạo tác phẩm, ắt sẽ góp phần giúp bạn đọc tiếp nhận bài thơ theo cách đúng đắn hơn, chuẩn xác hơn. Do đó, tôi sao lục thêm ba đoạn thư liên quan do chính người trong cuộc là Hoàng Thị Kim Cúc giãi bày.

Thư đề ngày 15/4/1971 gởi Quách Tấn: “Về cô gái trong câu Lá trúc che ngang mặt chữ điền mà ông hỏi có phải là tôi đó không. Thưa ông, bức ảnh đó chỉ là bức ảnh phong cảnh, không có cô gái nào khác ngoài cô gái chèo đò. Cô gái mà ông hỏi đó là do sức tưởng tượng của thi nhân mà hiện ra thôi. Số là mùa hè năm 1939, Ngâm viết thư về Huế cho biết Tử bị mắc bệnh nan y. Ngâm khuyên tôi nên viết thư thăm Tử, hãy an ủi một tâm hồn đau khổ. Thay vì viết thư thăm, tôi gởi một bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte-visite(20). Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử, mà không ký tên, rồi gởi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ và một bài thơ khác nữa(21) cũng do Ngâm gởi về (bài này các sách báo đều đăng cả rồi). Không ngờ sức tưởng tượng của thi nhân quá khác thường đến biến bức ảnh phong cảnh đó thành bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông hay một đêm trăng, trong đó có cô gái Lá trúc che ngang mặt chữ điền nữa! Khiến có người đã nghĩ rằng cô gái đó mặc áo trắng dài tha thướt vì câu Áo em trắng quá nhìn không ra…”.

Thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín: “Năm 1938, Ngâm cho biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh nan y. (…) Xiết bao ngậm ngùi thương cảm. Thương cho người tài hoa lâm đại nạn! Cảm tấm lòng yêu thương thắm thiết chân thành của Tử đã dành riêng cho tôi! Một thời gian sau, Ngâm đề nghị: lúc này, chị nên an ủi Trí. (…) Xa xôi quá, không biết làm gì khác hơn là viết mấy hàng chữ hỏi thăm sức khỏe Tử, viết mà không chữ ký, không đề ngày, sau tấm ảnh phong cảnh Huế, gởi nhờ Ngâm trao lại. Rồi mấy tháng sau, Ngâm gởi về cho tôi bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ với mấy hàng chữ sau lưng bài thơ vào tháng 8/1939. Giữa Hàn Mặc Tử và tôi chỉ có chừng nấy.”

Thư đề ngày 11/5/1988 gởi anh cả Hoàng Toại: “Đến khi nghe anh ta(22) mắc bệnh nan y, em rất xót thương cho người tài hoa bạc phận và để an ủi một tâm hồn tha thiết yêu thương đang vô cùng đau khổ, em gởi cho anh ta hai dòng chữ hỏi thăm sức khỏe viết trên một tấm cát 6x9(23) phong cảnh thành phố Huế, ảnh mua ở nhà chụp bóng Tăng Vinh. Sau khi nhận được bức phong cảnh đó thì anh ta gởi bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ tặng em. Thư đi thư về đều qua tay Ngâm chuyển, chứ em không trực tiếp gởi. Và sau mấy hàng chữ thăm sức khỏe và sau khi nhận được bài thơ Hàn Mạc Tử tặng, em cũng nín luôn, không thư từ gì cho thi sĩ nữa, qua năm sau (1940) thì được tin Hàn Mạc Tử mất tại Quy Hòa”.

Áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ cùng bức thư của Hàn đã được Hoàng Thị Kim Cúc trân trọng giữ gìn tại nhà riêng. Đó là tờ giấy pelure mỏng, một mặt chép bài thơ, mặt kia ghi mấy dòng thư. Rất may mắn được chị Cúc lúc sinh tiền cho xem tận mắt, tôi chú ý mấy điểm: bài thơ gồm 3 khổ thì khổ cuối trong thủ bản nằm cách biệt với hai khổ đầu, cuối bài thơ, tác giả ký Hàn Mạc Tử rồi đề 11-1939 (chứ không phải 8-1939). Còn bức thư thì nguyên văn như sau:

Túc hạ,
Có nhận được bức ảnh bến Vỹ Giạ lúc hừng đông (hay là một đêm trăng?) với mấy hàng chữ túc hạ gởi thăm. Muôn vàn cảm tạ. Túc hạ còn nhớ đến người năm xưa, thế là phúc hậu lắm rồi. Mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ thật đầy. Và mong rằng một mùa xuân nào đây sẽ gặp lại túc hạ phỉ dạ. Thăm túc hạ bình an vui vẻ.
Hàn Mạc Tử


Hoàng Thị Kim Cúc với bút danh Hoàng Hoa đã âm thầm sáng tác một số bài thơ, trong đó có những bài “đề tặng hương hồn anh HMT” như bài dưới đây viết vào đầu xuân Tân Tỵ 1941 - nghĩa là sau khi Hàn mất chưa đầy năm.

Bao năm hoa sống nơi thôn Vỹ
Thầm giữ trong lòng một ý thơ
Cũng biết cách xa ngoài vạn dặm
Tình anh lưu luyến cảnh quê mơ

Một mình một cõi với trời mây
Với cả đau thương với hận này
Anh khéo lột hết tài nghệ sĩ
Tiếng vang muôn thuở vẫn còn đây

Hồn anh lẩn khuất ở đâu xa
Hoa biết cùng ai thổ lộ ra
Tuy sống giữa cảnh đời náo nhiệt
Tình ai ai vẫn cứ đậm đà!


Nếu chỉ đọc qua bài thơ của Hoàng Hoa thôn nữ, lại thấy nàng suốt đời độc thân và bảo lưu kỹ lưỡng thủ bút Hàn thi sĩ, mà chưa đọc thư từ Hoàng Hoa viết hoặc chưa nghe Hoàng Hoa bộc bạch niềm riêng, hẳn không ít người sẽ dễ tin chuyện tình Hàn Mạc Tử - Hoàng Thị Kim Cúc từng diễn ra “ly kỳ mùi mẫn” y như sách báo và tuồng tích đã dày công… thêu dệt. Mức độ ngộ nhận càng tăng vì ngay cả người nhà cũng chẳng thấy Hoàng Thị Kim Cúc phản ứng gì trước bao đồn thổi, thị phi.

Chính xác, như chúng ta đã biết, Hoàng Thị Kim Cúc có phản ứng chừng mực, đúng người, đúng lúc, song chẳng đạt kết quả như nguyện. Trong một bài viết đăng trên tuần báo Văn nghệ số ra ngày 14/10/1995, Võ Đình Cường lý giải kỹ càng: “Những người có liên hệ mật thiết với Hàn Mạc Tử mà chị(24) đã cho biết sự thật, và yêu cầu họ đính chính, thì họ đã không làm, hay làm ngược lại, gây thêm hỏa mù trong bối cảnh đã có nhiều sương khói làm mờ nhân ảnh. Chẳng hạn như ông Nguyễn Bá Tín, tác giả cuốn hồi ký Hàn Mạc Tử anh tôi(25) xuất bản vào tháng 2/1991, sau bức thư của Hoàng Thị Kim Cúc gởi cho ông vào tháng 10/1987, nghĩa là sau gần 4 năm, nói rõ về tấm ảnh gởi Hàn Mạc Tử, là một tấm ảnh phong cảnh, thế mà ông Nguyễn Bá Tín lại viết: ‘Cho tới khi anh(22) đau nặng rồi (1939), chị Cúc còn cho anh một phiến ảnh cỡ 6x9(23): chị Cúc mặc áo dài lụa trắng như những cô gái Huế thời bấy giờ đứng trong vòm cây xanh mát. Anh làm ngay bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ…’. Quan trọng hơn nữa, cái đoạn chị Kim Cúc kể chuyện chị đã không nhận thư và sách của Hàn Mạc Tử đem tặng, tác giả Hàn Mạc Tử anh tôi đã bỏ qua, không nhắc đến. Nhưng tác giả lại viết: ‘Nếu anh(22) biết chị(24) đã quy y, dành riêng một căn phòng ngày đêm hương hỏa tụng niệm, tưởng nhớ mối tình bất diệt của anh mà cũng là mối tình đầu của chị, đang quyện theo trầm hương dâng lên anh nơi miền cực lạc. Nơi đây không còn ngăn cách giáo lương, không còn tham sân si trần tục. Ôi! Tình Hoàng Hoa đậm đà biết chừng nào!’ (…) Chị Kim Cúc có buồn không, khi bị người ta vô tình hay cố ý lái cái mục đích cao quý trong sự tu hành của chị về phía tôn thờ một người khác tôn giáo mà chị chỉ có thể có cảm tình, chứ không yêu?”.

Phân tích nội dung và nghệ thuật áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ, đã thấy xuất hiện khối trường hợp “bàn rồi tính” nối tiếp “bình rồi… tán” đến mức ì xèo! Ngang qua nhà Hoàng Thị Kim Cúc ở Vỹ Dạ, thấy hàng cau trồng nép bờ rào, có người chắc mẩm dòng Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên phải “mọc” từ đây! Hồi trước, vào vườn nhà chị Cúc, chúng tôi chưa thấy cây cau nào. Ông Nguyễn Bá Tín cũng ghi trong Hàn Mạc Tử trong riêng tư(26) rằng: “Năm 1985, tôi về Huế ghé thăm chị Cúc (…), chị Cúc chợt hỏi: Cậu có tìm được một cây cau nào trong vườn tôi không? Sao anh Trí lại nói đến hàng cau?”.

Công bố bài Một cách hiểu khác về “mặt chữ điền”(27), Thang Ngọc Pho lại tự bộc lộ chưa một lần về thôn Vỹ hoặc ghé Vỹ thôn nhưng thiếu quan sát đủ đầy mà vẫn bạo dạn khẳng quyết: “Mặt trước phía trên cổng nhà ở của quý tộc phong kiến ở đây(28) thường trang trí chữ điền đắp nổi. Điền, chữ Hán, có nghĩa là ruộng. Đó là biểu tượng của các gia đình quý tộc phong kiến, được nhà vua phong cấp ruộng đất theo cấp bậc và công trạng. Từ mặt trong câu thơ là mặt chữ chứ không phải là mặt người. Tác giả sử dụng phép ẩn dụ với nghĩa phái sinh như mặt bàn, mặt nước, mặt đường… Vậy câu thơ Lá trúc che ngang mặt chữ điền được hiểu là những chữ điền trên cổng các nhà quý tộc thấp thoáng dưới lá trúc. Cách hiểu này làm tăng giá trị của bài thơ.”

Thú thật, bản thân tôi từng sống ở Vỹ Dạ suốt thời gian dài mà không thấy cổng nhà quý tộc nào đắp nổi chữ điền. Thêm một thực tế nữa cần nêu, Hoàng Thị Kim Cúc là phụ nữ có khuôn mặt chữ điền.

Quá quắt hơn là trường hợp suy diễn chủ quan cực kỳ kệch cỡm: cô gái thôn Vỹ trở thành… kỹ nữ, khách đường xa biến ra khách làng chơi, thuyền ai đậu bến sông trăng trở nên buồng chứa nổi. Bằng lối gán ghép thô vụng như thế, Lê Đình Mai đã “phán” xanh rờn trong bài Đây thôn Vỹ Dạ - một tiếng thở dài đáng quý(29): “Ở chốn dâm ô này, những gì đẹp đẽ nhất, cao quý nhất của con người đều bị sương khói truy hoan lu mờ hết, hoen ố hết.” Nhiều tác giả đã lên tiếng phản bác cách lập luận khiên cưỡng đó. Chẳng ai phủ nhận trên dòng sông Hương xưa nay xuất hiện những điểm kinh doanh trò “ngủ đò tục”, quá khứ có lúc gần như công khai(30), song đoạn sông qua khu vực thôn Vỹ thì hoàn toàn khác.

Trên tập san Văn hóa và đời sống(31), đề cập đến sự hạn chế trong một số bài viết về áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ xuất hiện bấy lâu nay, Văn Tâm sơ bộ chỉ ra bốn nguyên nhân: thứ nhất là thói quen xã hội học dung tục; thứ hai là người nghiên cứu không am tường phong cách nghệ thuật của đối tượng mà mình tìm hiểu; thứ ba là mỹ cảm kém nhạy bén; thứ tư là thái độ tùy tiện, thiếu nghiêm túc trong khâu xác định và khảo chứng tư liệu. 
Phanxipăng
Nguồn: TC Nghiên cứu & Phát triển
_________________________
(1)    Nguyễn Trọng Trí (1912-1940) ký nhiều bút danh, trong đó có Hàn Mạc TửHàn Mặc Tử. Khảo sát kỹ lưỡng, nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy bút danh chính thức của Nguyễn Trọng Trí những năm cuối đời là Hàn Mạc Tử. Điều ấy đã được Phanxipăng trình bày rõ qua bài “Chính danh định luận: Mạc hay Mặc?” đăng trên tạp chí Thế giới mới số 416 (11/12/2000).
(2)    Pellerin hay còn gọi là Trường Bình Linh, thuộc dòng La San, được sáng lập tại Huế năm 1904, giảng dạy từ bậc tiểu học đến trung học (tương đương lớp 1 đến lớp 12 hiện nay). Từ năm 2008, đó là Học viện Âm nhạc Huế, địa chỉ số 1 Lê Lợi, thành phố Huế.
(3)    Hai niên khóa 1928-1929 và 1929-1930, tại Trường Pellerin ở Huế, Nguyễn Trọng Trí học lớp nhì năm thứ 2 / cour moyen 2è année (tương đương lớp 4 hiện nay) và lớp nhất / cour supérieur (tương đương lớp 5 hiện nay) là hai lớp thuộc bậc tiểu học - theo sự phân cấp giáo dục trên toàn quốc từ năm 1906 đến năm 1945 - chứ hoàn toàn không phải “có hai năm học trung học tại trường Pe-lơ-ranh (Pellerin) ở Huế? như sách giáo khoa hiện hành Ngữ văn 11 (Tập hai - Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, 2008 và 2009 - Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010) đã in đi in lại.
(4)    Bài Đôi nét về Hàn Mạc Tử được Quách Tấn (1910-1992) viết tại Nha Trang năm 1959, đăng tạp chí Lành mạnh số 38 (Huế, 1/11/1959), rồi lần lượt đăng lại trên tập san Văn và bán nguyệt san Phổ thông, đoạn in vào một số sách như Thơ Hàn Mạc Tử (Sở Văn hóa-Thông tin Nghĩa Bình, 1987), Hàn Mạc Tử thơ và đời (Nxb Văn học, Hà Nội, 1995), Hàn Mạc Tử hôm qua và hôm nay (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995), v.v... Lưu ý rằng nội dung văn bản Đôi nét về Hàn Mạc Tử có những thay đổi qua thời gian công bố.
(5)    Hiện nay là đường Lê Lợi, thành phố Quy Nhơn.
(6)    Vở tuồng cải lương Hàn Mạc Tử do Viễn Châu và Thể Hà Vân hợp soạn năm 1957.
(7)    21 tuổi ta, 20 tuổi tây, tức là vào năm 1933.
(8)    Bên đó: Hoa Kỳ.
(9)    Tham khảo thêm bài “Bạn thân đồng tuế đồng hương của Hàn Mạc Tử" do Phanxipăng viết đăng tạp chí Thế giới mới số 891 (5/7/2010).
(10)    Sách Hàn Mạc Tử của Trần Thanh Mại, in lần đầu năm 1942, sau được tái bản nhiều lần.
(11)    Cư sĩ: người tu trì tại gia.
(12)    Trích bài viết “Nhớ cô Hoàng Kim Cúc” của Võ Thị Tiểu Kiều in trong tuyển tập Đồng Khánh mái trường xưa năm 1992.
(13)    Do nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn ấn hành lần đầu năm 1970, sau được nhiều nhà xuất bản tái bản.
(14)    Gia đnh Phật tử có tiền thân là Đoàn Thanh niên Đức dục và Gia đnh Phật hóa phổ được thành lập tại Huế vào thập niên 1930.
(15)    Trích bài “Tiếng thở dài - chia sẻ với Hàn Mạc Tử” đăng tạp chí Sông Hương số 2 năm 1990, sau in vào sách Cảm nhận thơ Hàn Mạc Tử (Nxb Thuận Hóa, Huế, 1999).
(16)    Địa danh Vỹ Dạ do biến âm từ gốc Vĩ (Vi) Dã 葦野°. Vĩ (Vi) : cây lau. °: cánh đồng.
(17)    Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000, trang 283.
(18)    Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2000, trang 5.
(19)    Trích một dòng từ bài thơ “Buồn ở đây” trong tập Thượng thanh khí của Hàn Mạc Tử.
(20)    Carte-visite: carte de visite: danh thiếp.
(21)    Bài thơ Sao, vàng sao.
(22)    Tức Hàn Mạc Tử.
(23)    6x9cm.
(24)    Chỉ Hoàng Thị Kim Cúc.
(25)    Nxb Tin, Paris, 1990 - Nxb TP HCM, 1991.
(26)    Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1994, trang 118.
(27)    Tạp chí Tài hoa trẻ, số 69 ra ngày 25/2/1999.
(28)    Vỹ Dạ.
(29)    Báo Giáo viên nhân dân, số đặc biệt tháng 1/1990.
(30)    Có thể đọc phần Những con đò đưa khách trong bài “Sinh hoạt những vạn đò trên sông Hương trước 1975” của Phan Hoàng Quý đăng trên Nghiên cứu Huế, tập 1,1999 và phóng sự “Ngủ đò sông Hương” in trong sách Huế chừ của Phanxipăng (Nxb Thanh niên, 2000).
(31)    Nxb TP HCM, 1990.

Một di cảo của Chế Lan Viên về chuyện tình của Hàn Mặc Tử

 Nguyễn Đắc Xuân

Gần nửa thế kỷ qua đã có nhiều sách báo viết về chuyện những người tình thơ của Hàn Mặc Tử, trong đó có chuyện Hàn Mặc Tử yêu Hoàng Thị Kim Cúc (tức Hoàng Cúc) và viết nên bài thơ bất hủ Đây thôn Vỹ Dạ.

Cuối năm 1986, ngồi ở khách sạn Lê Lợi - Huế viết Tựa cho tập Bài thơ thôn Vỹ (thơ viết về Huế trước năm 1945), do tạp chí Sông Hương thực hiện, Chế Lan Viên không thể không nhắc đến “chuyện tình” của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc.


Chế Lan Viên 

Bài Tựa dài 17 trang (từ trang 5 đến 22) có nhan đề Sông Thương, sông Hương, trong dòng văn học. Tại trang 18, Chế Lan Viên viết:
Lẽ nào lại không nhắc đến Hoàng Cúc. Chính Mai Đình mang đến tôi một tập Nắng xuân có đăng bài Sao anh không về chơi thôn Vỹ của Tử tặng cho Hoàng Cúc. Tử cộng tác cùng anh Nguyễn Minh Vỹ (nguyên trong phái đoàn ta ở Paris, nguyên thường trực Ban Tuyên huấn Trung ương) in ở Quy Nhơn năm 1937. Chị Cúc không như trong các sách nói là đã đi lấy chồng. Chị sống độc thân, tu hành, năm nay 73 tuổi rồi, nhưng tập thơ 50 năm xưa chị vẫn giữ, bút tích Tử chị còn giữ, chị còn nhắn tôi: “Tôi già rồi, chỉ còn có tập Nắng xuân, anh giữ cho tôi”.
Bốn mươi ngàn bản Bài thơ thôn Vỹ với lời Tựa của Chế Lan Viên ra đời tháng 6/1987 được độc giả trong và ngoài nước rất hoan nghênh. Nhiều độc giả mua sách đem về Vỹ Dạ tặng cô Hoàng Cúc. “Sự kiện” ấy không ngờ đã làm xao động tình cảm của người đã từng gửi thư hỏi Hàn Mặc Tử “Sao anh không về chơi thôn Vỹ” năm mươi năm trước. Cô Cúc không muốn nhắc đến “chuyện cũ” nữa nên nhờ tôi (trong Ban Biên tập tạp chí Sông Hương) vào đầu tháng 9/1987 đưa cô đến tiếp xúc với Ban Biên tập tạp chí Sông Hương để yêu cầu “Nếu tái bản bài thơ thôn Vỹ thì xin cắt bỏ đoạn Chế Lan Viên viết về Hoàng Cúc”. Cuộc hẹn không thành, tôi khuyên cô nên viết thư thẳng cho Chế Lan Viên, tôi sẽ chịu trách nhiệm chuyển thư. Và cô đã thực hiện theo lời khuyên của tôi. 

Hàn Mặc Tử và những người tình trong thơ
Tôi không rõ cô Hoàng Cúc đã viết những gì cho Chế Lan Viên nhưng sau đó Chế Lan Viên đã hồi âm một thư dài đến 8 trang, viết bằng mực tím vừa tình cảm vừa thẳng thắn. Trước lý lẽ của Chế Lan Viên, cô Hoàng Cúc không “chống chế” gì được nữa(*). Cô gọi tôi về Vỹ Dạ và giao cho tôi giữ lá thư của Chế Lan Viên cùng với một số tài liệu lúc cô theo học ở trường Nữ công Học hội của bà Đạm Phương những năm 30 của thế kỷ trước. Cô Hoàng Cúc giao cho tôi những tài liệu này vì cô muốn giúp tài liệu cho công cuộc nghiên cứu văn hóa lịch sử của tôi.
Nhận thấy lá thư 8 trang viết tay ấy của Chế Lan Viên có nhiều thông tin liên quan đến văn học Việt Nam nói chung, cuộc đời và sự nghiệp văn học của Hàn Mặc Tử nói riêng, cho nên tôi xin công bố lá thư mà tôi đã giữ từ cuối năm 1987.
THƯ CHẾ LAN VIÊN GỬI CÔ HOÀNG CÚC
Viên Tĩnh Viên 19/9/1987
Kính gởi chị Kim Cúc
Thưa chị,
Tôi được thư chị chiều nay, đọc xong thì thú thật, tôi rất buồn. Không hiểu vì sao một việc tôi làm với ý định tốt cho văn học, cho Hàn Mặc Tử, bạn chị và bạn tôi, thậm chí tốt cho chị nữa lại bị khiển trách.
Một là tôi từ khi làm tuyển anh Tử đến giờ rất quý, biết ơn các người cung cấp tài liệu. Một hôm, chị Vân Khanh - cháu ruột anh Tử và chị Mai Đình đem tập Nắng xuân lên tôi nói là chị cho mượn, dặn là: “Chỉ còn chừng ấy, đừng làm mất”. Lại còn nói là có bản thảo Hàn Mặc Tử chị đã đưa nơi anh Võ Long Tê có cần lấy lại không. Tuy là bây giờ có một bút tích của anh Tử thì là vô giá, nhưng tôi nói “thôi ở đâu cứ để đó” chừng ấy là đủ.
Sau đó, tôi có viết tấm thiếp cảm ơn chị “đã đóng góp cho nền văn học” như chị nhắc đó. Nếu nhận tấm thiếp ấy mà chị cho tôi ngay mấy chữ, bảo là Vân Khanh, Mai Đình tự ý đưa tôi, không có ý chị thì chắc tôi không có mấy dòng trên. Dù sao cũng cảm ơn chị đã gởi tập sách, cảm ơn Vân Khanh và Mai Đình đã “lén” đưa (có lẽ chị muốn nói thế) nhờ thế, tuy tôi có bị chị mắng, nhưng cả nước đã được đọc bài Ông Nghị Gật. Riêng bài này Sông Hương có gởi tôi 1.000đ, tôi không hiểu là vì sao viết lời giới thiệu mà cũng được nhuận bút, tôi đã viết thư và nhắn miệng Sông Hương là phải gởi nhuận bút, hoặc mua hoa, quà tặng chị, vì chị là người giữ tác phẩm này.
Nhắc đến chị vì tôi rất cảm động là qua nửa thế kỷ tôi gặp lại một tập sách ngày nhỏ. Càng cảm động hơn khi biết chị đã giữ gìn. Vân Khanh và Mai Đình nói như tôi đã viết là chị dặn: “Chị chỉ còn chút kỷ niệm này, bảo quản cho tốt”.
Vì cảm động đó tôi muốn đính chính những lời không hay đã viết về chị. Chị là một cá nhân, ai đề cập đến phải thận trọng, xin ý kiến. Khốn nỗi, chị Kim Cúc là cá nhân ấy, nhưng chị Hoàng Cúc thì vào lịch sử văn học rồi. Và họ viết không như tôi viết đâu. Tôi xin trích các câu chị rõ.
Trong quyển Hàn Mặc Tử của ông Trần Thanh Mại in năm 1942 và tái bản sau đó đến 5 lần, lần cuối là 1970 ở chương “Những người đàn bà đã kinh qua đời Hàn Mặc Tử”, ông Mại viết: “Bài Đây thôn Vỹ Dạ ra đời là do một bức ảnh của một người thiếu nữ ở Huế, cô K.C gởi tặng”.
Trong tập L’expérience poétique et l’itinéraire spirituel de Hàn Mặc Tử ông Võ Long Tê viết: “Le père de celle-ci (la belle Hoàng Cúc Chrysanthème Jaune) était justement le chef du service provincial du Cadastre à Quy Nhơn. En raison de sa modeste situation de fonctionnaire dans ce service, Hàn Mặc Tử dût l’aimer en silence, car elle avait été destinée par son père à un jeune home plus intéressant parce que plus fortuné”.
Ông Võ Long Tê lấy tài liệu ở anh Quách Tấn. Trong tập Văn (73-74) in ở Sài Gòn rất lâu trước ngày giải phóng anh Tấn viết (trang 92):
Cũng đừng tưởng mối tình của Tử đối với Hoàng Cúc không nồng nàn... Cho nên đối với Hoàng Cúc có lần Tử muốn gác lễ nghĩa một bên. Tử có đọc cho tôi một bài thơ, theo Tử, chưa đọc cho ai nghe hết và dặn tôi phải giấu kín.
Bấy lâu sát ngõ, chẳng ngăn tường
Không dám sờ tay sợ lấm hương
Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá
Muốn ôm hồn cúc ở trong sương
Gần hai trang (92-93) về việc này. Và có những câu như: Nhưng hôn sự bất thành. Bất thành vì... Nghĩa là thân sinh của Hoàng Cúc - lúc bấy giờ làm Tham tá Đạc Điền Quy Nhơn mà Tử là tùy thuộc - nhà Tử không xứng mặt đông sàng(**). Tử thôi làm việc ở Sở Đạc Điền Quy Nhơn để vào Sài Gòn làm báo chính vì bị chê không có địa vị cao sang. Ghé vào Nha Trang thăm tôi, khi đi Sài Gòn, Tử nói:
- Đi chuyến này tôi quyết xây sự nghiệp văn chương cho thật vững vàng, thử xem người ta có còn dám khi dễ.
Trang 44 lại viết:
Khi Tử đau nằm ở Quy Nhơn, Hoàng Cúc có gởi vào tặng Tử một phiến ảnh “cô gái Huế” với lời mời “ra chơi Vỹ Dạ”...
Bài Đây thôn Vỹ Dạ khi được in ở tập sách của ông Võ Long Tê năm 1972 lại được chú thích: Ce poème fût composé en souvenir d’une photo de Hoàng Cúc. Etablie avec sa famille à Vỹ Dạ, elle a eu la délicate pensée de l’offrir au poète lépreux qui a été son soupirant...
Trên các vở cải lương, kịch, ảnh vô tuyến truyền hình của Sài Gòn, tên của chị, của chị Mai, chị Cầm, anh Tử được gán với nhiều chuyện bóp méo, ly kỳ, phi lý nữa kia. Nghĩa là tính từ 1942 đến 1987 có đến 45 năm rồi, tên chị đã được nhắc trên báo sau nửa thế kỷ, tôi mới nói đến, nói rất có tình cảm, thêm uy tín cho chị, vứt bỏ cái câu chuyện "trọng tiền coi rẻ tình cảm” khá tổn hại cho chị và gia đình. Thế mà tôi bị "mắng”, tôi rất buồn. Tôi thử phân tích vì sao bao nhiêu người viết về chị mà chị không giận. Mà chị lại bực mình về sự thông tin khá trân trọng của tôi.
Xa chị nên tôi có thể đoán sai:
Một là chị không cho mượn thật. Các cô Mai Đình, Vân Khanh bịa ra mà đưa cho tôi mượn. Thế thì sao khi tôi viết thư cảm ơn chị cho mượn, chị không phản đối cho tôi biết. Chị nói chị còn giữ cái thiếp ngày 13/11/1986 ấy mà.
Hai là có thể khi chưa công bố những lời tôi, chị có thể cho chả có gì quan trọng mà bàn đi bàn lại. Nay báo nói đến, người này hỏi, người kia hỏi, chị thấy phiền. Chả hiểu tôi có chủ quan không, tôi thấy từ khi có bài tôi, người ta hiểu đúng hơn về chị là chị tu hành chớ không phải tham tiền phụ nghĩa đi lấy chồng giàu sang như các bài báo, bài văn, kịch, và kể cả các đoạn tôi trích trên làm cho thiên hạ hiểu lầm như thế. 50 năm im lặng giữ một kỷ niệm đẹp và trong sáng biết chừng nào.
Tôi có bàn với vợ tôi vì sao. Vợ tôi bảo: "Có thể chị là người tu hành. Chị ở trong xóm chùa Phước Duệ như địa chỉ... ”. Tôi bỗng thấy hối hận khi vợ tôi nhắc chuyện ấy. Vì gia đình tôi vốn là Phật tử. Tôi chợt nhớ bốn câu thơ của Jean Leiba:
Trần thế đã nhiều duyên nghiệp lắm
Lửa lòng mong cạn chốn am không
Cửa thiền một khóa duyên trần dứt
Quên hết người quen chốn bụi hồng
Chắc chị muốn quên hết. Hoặc đã quên hết. Riêng tôi nghĩ: dù chị có nhớ, có giữ lại một kỷ niệm, thì cũng chả phải là khuyết điểm gì. Chả ai lại nói là chị còn chưa thành tâm, là còn lưu luyến. Chị đọc thơ của Sư tổ Huyền Quang đời Trần (một trong Tam tổ Trúc Lâm và là nhà thơ lớn của dân tộc), chị sẽ rõ. Việc của chị giữ tập thơ, đứng về đời là rất có ích, đứng về đạo cũng là rất đẹp. Dù sao, trong lúc chị tuổi cao, mà việc tôi làm lại gây cho chị phiền não, tôi xin lỗi chị. Kính mong chị sức khỏe. Và ngày nào về Huế, tôi sẽ đến chùa thăm chị. Xem như là không có chuyện này. Còn các việc trên, chị cứ hỏi lại chị Mai Đình, cháu Vân Khanh, anh Võ Long Tê, anh Quách Tấn...

Thân ái
Chế Lan Viên


(*)   Theo nhà thơ Trần Nhật Thu, bà Hoàng Cúc có đến thăm Chế Lan Viên tại Viên Tĩnh Viên và Chế Lan Viên có giới thiệu bà với Trần Nhật Thu..
(**)  Giường kê về phía đông; dùng để gọi chàng rể. HV


Không có nhận xét nào: