Trang Chủ, Dấu Chân lãng tử,

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

PHONG KIỀU DẠ BẠC -TRƯƠNG KẾ



PHONG KIỀU DẠ BẠC -TRƯƠNG KẾ

Dịch nghĩa: 
Trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời
Khách nằm  ngủ trước cảnh buồn của ánh đèn
thuyền chài và hàng cây phong bên bờ sông.
Từ ngoại thành Cô Tô, chùa Hàn Sơn
Nửa đêm có tiếng chuông vọng đến thuyền khách

Dịch thơ (Tản Đà dịch): 
Trăng tà chiếc qua kêu sương
Lửa chài làng bến sầu vương giấc hồ
Thuyền  ai  đậu  bến  Cô  Tô
Nửa đêm nghe tiến chuông chùa Hàn Sơn

Đàm Thanh dịch ( I ): 
Trăng xế, quạ kêu sương phủ mờ
Lửa chài, cây bến, đối sầu mơ
Cô Tô chuông điểm Hàn Sơn tự
Vọng đến thuyền ai gọi khách thơ

Đàm Thanh dịch ( II ): 
Trăng tà, tiếng quạ giữa trời sương,
Cây bến, lửa chài giấc mộng vương
Thành ngoại Cô Tô nơi bến vắng
Chuông Hàn Sơn tự điểm canh trường.



Bia Khắc Ở Phong Kiều


Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế
Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế

Phong Kiều



CHÚ THÍCH:




Phong Kiều dạ bạc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phong Kiều dạ bạc là bài thơ rất nổi tiếng của Trương Kế (张继 Zhang Jì), tác giả sống vào khoảng trước sau năm 756- đời vua Đường Túc Tông. Trương Kế tự là Ý Tôn, từng thi đậu tiến sĩ và làm quan trong triều với chức vụ Tự bộ viên ngoại lang, về sau bị đổi ra Hồng Châu coi việc tài phú và mất tại đây. Sinh thời, ông là người học rộng, thích đàm đạo và bàn bạc văn chương, thế sự... đặc biệt rất thích làm thơ. Bài thơ này là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, chỉ với nó ông đã được liệt vào hàng đại gia. Ông sáng tác bài này khi đi thi trượt trở về ghé qua Tô Châu, tức cảnh mà sinh tình.
Nguyên tác bài thơ Phong Kiều dạ bạc sau này đã được Khang Hữu Vi đời nhà Thanh khắc trên tấm bia lớn dựng trong chùa Hàn San để cho người đời sau qua đây thưởng lãm.

 Văn bản

Nguyên bản chữ Hán:
楓橋夜泊
月落烏啼霜滿天
江楓魚火對愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘聲到客船
Phiên âm Hán-Việt:
Phong Kiều dạ bạc
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

§                    Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hàm Ninh
(thường bị nhầm là bản dịch của Tản Đà):
Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San[1]
§        Bản dịch của Tản Đà
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
§                    Bản dịch Tiếng Việt của Hồ Tiểu Tà cho bài thơ "Phong Kiều dạ bạc" của Trương Kế tiên sinh.
Neo thuyền bến Phong Kiều
Trăng tản, quạ rền, sương lãng đãng.
Bàng-sông, lửa-cá đối nghiêng sầu.
Nửa đêm đỗ thuyền nghe chuông vọng,
Cô Tô chùa cổ một Hàn Sơn.
TP.HCM 17/9/2009
§        Bản dịch Tiếng VIệt của Bác Sĩ Đào Huy Hách (1910-2003)
Đêm khuya đậu bến Phong kiều
Trăng tà mờ mịt quạ kêu sương
Cây bãi đèn chài dạ vấn vương
Neo bến Cô Tô Hàn Tự cạnh
Nửa đêm văng vẳng tiếng chuông buông
Trích trong tập "230 Bài Đường Thi" của Bác Sĩ
Paris 28/12/2011

[sa]Lời bình

"Phong Kiều dạ bạc" là một bài thất ngôn tứ tuyệt hàm súc, dễ hiểu, với nhiều địa danh đầy sức gợi cảm như Cô Tô- gắn với hình ảnh về người đẹp Tây Thi, Hàn San là ngôi chùa có nhiều vị sư nổi tiếng một thời và nhiều giai thoại, điển tích... nên thường có các cách giải thích khác nhau về một vài tình tiết khi chuyển ngữ. Tuy nhiên vẻ đẹp thống nhất từ hình tượng bài thơ thì các dịch giả từ Tản Đà, Nguyễn Hàm Ninh, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Ngô Tất Tố v.v. cũng như các dịch giả khác sau này đều có điểm tương đồng trong cách cảm nhận.
Bài thơ là nỗi buồn của Trương Kế gửi gắm trong một tiếng quạ kêu thảng thốt, lẻ loi trong đêm và cái nỗi sầu len vào giấc ngủ chập chờn của hàng cây phong đối diện với ánh lửa chài. Hai câu thơ tả thực mà không thực, nó hấp dẫn người đọc ở cái vẻ hư ảo của nó. Những ‎ý thơ dường như không khớp nhau vì khi trăng lặn (nguyệt lạc), tức đã gần sáng, mà gần sáng (khác với nửa đêm - bán dạ) thì còn ai thức mà thỉnh chuông nữa. Tác giả viết những câu thơ trong chập chờn nửa tỉnh nửa mơ, gần sáng mà cứ tưởng nửa đêm. Đó là nỗi buồn của một người thi trượt, ấp ủ mộng công danh mà nay tan vỡ giống như Tú Xương vậy. Tiếng chuông đến từ chùa Hàn San, nơi có hai vị sư Hàn San và Thập Đắc nổi tiếng uyên thâm đạo học thời bấy giờ, ở ngoại thành Cô Tô đến làm khách của tác giả cũng giống như là tiếng chuông ảo. Câu thơ hay trong cái mơ màng hư ảo đó. Lấy một cái "giả thực" của ngoại cảnh để thể hiện một cái "đích thực" của tâm trạng là một đặc sắc nghệ thuật mà các tác giả cổ điển hay dùng. Nỗi buồn vô cớ hay nỗi buồn về nhân tình thế thái nói chung của tác giả, cho đến ngày nay vẫn chỉ là sự suy diễn.

[sa]Một số ý kiến liên quan

Một số tranh cãi trong giới thi sĩ xoay quanh hai câu thơ đầu về các từ như "ô đề", "sầu miên". Có người cho rằng phải hiểu hai từ trên như là hai địa danh là Ô Đề và Sầu Miên, nhưng nếu hiểu như vậy thì giá trị nghệ thuật của bài thơ giảm đi đáng kể, ngoài ra chưa có chứng cứ gì chứng tỏ ở khu vực này đã từng tồn tại các địa danh như vậy. Câu kết cũng bị tranh luận nhiều, do một số người cho rằng các chùa (gần như) không đánh chuông vào nửa đêm, ngoài ra nó còn mâu thuẫn với câu đề là Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên đã hàm ý trời gần sáng. Tuy nhiên, trong thơ ca, sự phá cách là một điều hết sức tự nhiên. Âu Dương Tu thì cho rằng: "Thi nhân tham cầu hảo cú nhi lý bất thông giả, diệc ngữ bệnh dã" (Nhà thơ vì muốn đặt câu cho hay nên lý không được thông, đó là một ngữ bệnh vậy). Sô Nghiêu trong quyển Đường thi tam bách thủ độc bản thì cho rằng: "Hậu nhân dĩ vi dạ bán vô chung thanh tương cấu bệnh, vị miễn xuy mao cầu tì" (Người đời sau lấy cớ nửa đêm không có tiếng chuông và cho là một ngữ bệnh, như thế thì chưa tránh khỏi cái thói bới lông tìm vết).


THỬ DỊCH BÀI: Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu




THỬ DỊCH BÀI: Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu 


黃鶴樓
崔顥
昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

Hoàng Hạc Lâu
Thôi Hiệu 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!
Dịch nghĩa:
Lầu Hoàng Hạc
Người xưa cưỡi hạc vàng bay đi rồi
Đất này nay chỉ còn trơ tòa lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng một bay không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn thong thả lửng lơ bay
Sông tạnh nom rõ hàng cây trên đất Hán Dương
Cỏ thơm xanh tốt trên bãi Anh Vũ
Chiều xuống, quê nhà không biết ở phương nào
Khói sóng trên sông khiến lòng buồn bã.
Dịch thơ (HTLT dịch):
Lầu Hoàng Hạc
Người xưa cưỡi hạc vút trùng khơi
Hoàng Hạc lầu không lạnh một trời
Hoàng hạc lần đi chẳng trở lại
Mây trong muôn kiếp mãi rong chơi
Hán Dương dòng biếc cây soi bóng
Anh Vũ bờ xanh cỏ thắm phơi
Chiều tắt chạnh lòng đâu cố xứ?
Mịt mù khói sóng sầu chơi vơi

BẮC NINH, 11.2012

Thưởng thức bài: Bốn Mùa Viễn Du của Thôi Hiệu (Xuân Hạ Thu Đông, Thôi Hiệu)



LỜI CHÚC ĐẦU ĐÔNG
Gởi bốn phương hoa lá

Tuyết sương cùng với mặt trời
Từ muôn thuở đến không rời một ly
Mỗi ngày là một tương nghì
Chúc nhau ngày mới nhất nhì rong chơi

HTLT

Thưởng thức bài: Bốn Mùa Viễn Du của Thôi Hiệu
(Xuân Hạ Thu Đông, Thôi Hiệu)

Xuân Hạ Thu Đông
Thôi Hiệu

春夏秋冬

春遊芳草地
夏賞綠荷池
秋飲黃菊酒
冬吟白雪詩.
Dịch âm:
Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi.
Dịch nghĩa:
Mùa xuân đi thăm nơi cỏ mọc
Mùa hạ thưởng thức ao sen xanh
Mùa thu uống rượu cúc vàng
Mùa đông ngâm thơ tuyết trắng
Siêng dịch thơ:
Xuân xem hoa cỏ mọc
Hạ ngắm hồ sen xanh
Thu uống rượu cúc vàng
Đông say màu tuyết trắng
Toàn dịch thơ:
Xuân thăm xứ cỏ hương bay
Hạ thì thưởng thức ao đầy sen xanh
Thu uống rượu cúc vàng lành
Đông ngâm thơ tuyết tuyết thành bạch thanh
Hoàng Đức dịch thơ:
BỐN MÙA VIỄN DU
XUÂN chơi danh thắng bốn phương
HẠ vui sông nước xanh trong la đà
THU về uống rượu hoàng hoa
ĐÔNG nhàn thi hứng ngâm tràn tuyết sương
CHÚ THÍCH:
TĐTC/PH
春遊芳草地gt
春游芳草地pt
Xuân du phương thảo địa ,
chun yóu fang căo dì ,
夏赏绿荷池gt
夏賞綠荷池pt
Hạ thưởng lục hà trì ,
xià shăng lǜ hé chí ,
秋饮黄菊酒gt
秋飲黃菊酒pt
Thu ẩm hoàng cúc tửu ,
qiu yĭn huáng jú jiŭ ,
冬吟白雪诗.gt
冬吟白雪詩.pt
Đông ngâm bạch tuyết thi .
dong yín bái xuĕ shi.

2908
u6625 py:chun xuân (9 n) Bộ u65E5 nhật (4n)
1 : Mùa xuân, từ tháng giêng đến tháng ba gọi là mùa xuân. 2 : Xuân là đầu bốn mùa, muôn vật đều có cái cảnh tượng hớn hở tốt tươi, cho nên người ta mới ví người tuổi trẻ như mùa xuân mà gọi thì tuổi trẻ là thanh xuân 青春 xuân xanh, ý thú hoạt bát gọi là xuân khí 春氣, thầy thuốc chữa khỏi bệnh gọi là diệu thủ hồi xuân 妙手回春. 3 : Rượu xuân, người nhà Ðường hay gọi rượu là xuân. 4 : Lễ nhà Chu cứ đến tháng trọng xuân 仲春 (tháng hai) thì cho cưới xin, vì thế mới gọi các con gái muốn lấy chồng là hoài xuân 懷春.

7015
u904A gt:u6E38 py:yóu du (13 n) Bộ u8FB5 sước (7n)
1 : Chơi, tới chỗ cảnh đẹp ngắm nghía cho thích gọi là du. Như du sơn 遊山 chơi núi. Du viên 遊園 chơi vườn, v.v. Ði xa cũng gọi là du. Như du học 遊學 đi học xa. 2 : Chơi bời, đi lại chơi bời với nhau gọi là du. Như giao du thậm quảng 交遊甚廣 chơi bạn rất rộng. 3 : Ðặt ra những lời đáng mừng đáng sợ để nói cho người dễ xiêu lòng nghe mình gọi là du thuyết 遊說. 4 : Có khi dùng lầm như chữ du . Xem lại chữ du . 5 : Vui.

5972
u82B3 py:fang phương (8 n) Bộ u8278 thảo cv:u8279 (6n)
1 : Cỏ thơm. Như phương thảo 芳草 cỏ thơm. Nó rộng ra thì vật gì mùi thơm đều gọi là phương. Như phương danh 芳名 tiếng thơm. 2 : Ðức hạnh danh dự lưu truyền lại cũng gọi là phương. Như lưu phương bách thế 流芳百世 để tiếng thơm trăm đời.

6039
u8349 py:căo thảo (10 n) Bộ u8278 thảo cv:u8279 (6n)
1 : Cỏ, chữ để gọi tóm các loài cỏ, đời xưa viết là . 2 : Qua loa. Như thảo suất 草率, thảo sáng 草創 đều nghĩa là mới có qua loa, chưa được hoàn toàn vậy. 3 : Ở nhà quê. Như thảo mãng 草莽, thảo trạch 草澤 đều là chỉ về người nhà quê cả. Dân lành đi làm giặc gọi là lạc thảo 落草. 4 : Bỏ phí. Như thảo gian nhân mệnh 草菅人命 coi mệnh người như cỏ rác. 5 : Thảo, mới viết qua chưa định hẳn gọi là bản thảo. Như thảo hịch 草檄 thảo bài hịch, thảo biểu 草表 thảo bài biểu, v.v. 6 : Chữ thảo, một lối chữ trước từ nhà Hán, để viết cho nhanh. 7 : Cắt cỏ.

1362
u5730 py:dì địa (6 n) Bộ u571F thổ,độ,đỗ (3n)
1 : Ðất, đựng chứa muôn vật cõi đời gọi là địa. 2 : Ðịa vị, cái ngôi của mình được tới, trong phép Phật chia ra mười ngôi bồ-tát gọi là thập-địa 十地 để định rõ chỗ tu hơn kém nhau. 3 : Chất, nền, phàm vẽ cái gì cũng phải làm nền rồi mới bôi các mùi được, thế là địa. 4 : Khu đất. 5 : Chỗ nào ý chí mình tới được gọi là địa. Như tâm địa 心地, kiến địa 見地, v.v. 6 : Những. Như nghĩa chữ đãn . 7 : Dùng làm tiếng giúp lời. Như hốt địa 忽地, đặc địa 特地, cũng như ta nói chợt vậy, đặc cách thế, v.v.

1442
u590F py:xià hạ,giạ,giá (10 n) Bộ u590A suy,truy (3n)
1 : Mùa hè, lịch tây định từ 6 tháng 5 đến 8 tháng 8 là mùa hè, lịch ta định tháng 4, 5, 6 là mùa hè. 2 : Một âm là giạ. Giữa nước gọi là giạ. Như Hoa giạ 華夏 ý nói nước Tàu là nước văn minh ở giữa, ngoài ra là mán mọi. 3 : To lớn. Như giạ ốc 夏屋 nhà to. 4 : Nhà Giạ, vua Võ chịu ngôi vua của vua Thuấn truyền cho gọi là nhà Giạ (2000-1500 trước T.L.) 5 : Nước Giạ, vua phong vua Võ ra nước Giạ, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ðầu hồi nhà Tống, Triệu Nguyên Hạo 趙元昊 tự lập làm vua gọi là nhà Tây giạ 西夏. 6 : Lại một âm là giá. Giá sở 夏楚 một thứ hình trong tràng học đời xưa, để đánh những kẻ không giữ khuôn phép. ta quen đọc là chữ hạ cả.

8354
u8CDE u00A0 gt:u8D4F py:shăng thưởng (15 n) Bộ u8C9D gt:u8D1D bối (7n)
Thưởng,thưởng cho kẻ có công.Khen,thưởng thức cho là hay là đẹp mà khen lao,mà ngắm nghía gọi là thưởng.

5087
u7DA0 gt:绿u7EFF py:lǜ lục (14 n) Bộ u7CF8 mịch (6n)
1 : Sắc xanh biếc, xanh mà lại lẫn cả sắc vàng gọi là lục. 2 : Một nguyên chất nhà hóa học tìm thấy ở loài phi kim chlorine, thành một chất hơi xanh vàng, mùi rất hăng rất độc, hít vào có thể hộc máu ra.

5669
u8377 py:hé hà (11 n) Bộ u8278 thảo cv:u8279 (6n)
1 : Hoa sen. 2 : Bạc hà 薄荷 cây bạc hà, dùng cất dầu làm thuốc. 3 : Một âm là hạ. Gánh vác. 4 : Nhờ ơn. 5 : Tự đảm đang lấy.

3732
u6C60 py:chí trì (6 n) Bộ u6C34 thủy (4n)
1 : Thành trì, cái sông đào quanh thành để giữ thành. 2 : Cái ao.

4749
u79CB py:qiu thu (9 n) Bộ u79BE hòa (5n)
1 : Mùa thu. Theo lịch tây thì từ mồng 8 tháng 8 đến mồng 8 tháng 11 là mùa thu. Theo lịch ta thì từ tháng 7 đến tháng 9 là mùa thu. Ðến mùa thu thì muôn vật điêu linh, khí trời sầu thảm, cho nên ai có dáng thương xót thê thảm thì gọi là thu khí 秋氣. Ðỗ Phủ 杜甫 : Vạn lý bi thu thường tác khách 萬里悲秋常作客 ở xa muôn dặm, ta thường làm khách thương thu. 2 : Mùa màng lúa chín gọi là hữu thu 有秋. 3 : Năm. Như thiên thu 千秋 nghìn năm. 4 : Lúc, buổi. Như đa sự chi thu 多事之秋 lúc đang nhiều việc. 5 : Tả cái dáng bay lên.

7811
u98F2 gt:u996E py:yĭn,yìn ẩm,ấm (12 n) Bộ u98DF thực,tự (9n)
1 : Đồ uống. Như rượu, tương gọi là ẩm. 2 : Uống. Như ẩm tửu 飲酒 uống rượu, ẩm thủy 飲水 uống nước, v.v. 3 : Ngậm nuốt. Như ẩm hận 飲恨 nuốt giận, nghĩa là mang mối hận âm thầm ở trong không lộ ra ngoài. 4 : Một âm là ấm. Cho uống. Như ấm chi dĩ tửu 飲之以酒 cho uống rượu.

8235
u9EC3 gt:u9EC4 py:huáng cv:u9EC4 hoàng (12 n) Bộ u9EC4 hoàng (12n)
1 : Cũng như chữ hoàng .

5700
u83CA py:jú cúc (12 n) Bộ u8278 thảo cv:u8279 (6n)
1 : Hoa cúc. Ðào Uyên Minh 陶淵明 : Tam kính tựu hoang, tùng cúc do tồn , ra lối nhỏ đến vườn hoang, hàng tùng hàng cúc hãy còn đây.

7207
u9152 py:jiŭ tửu (10 n) Bộ u9149 dậu (7n)
1 : Rượu, phàm các thứ dùng để uống mà có chất say đều gọi là "tửu". Nguyễn Trãi 阮薦 : "nhất hồ bạch tửu tiêu trần lự" 一壺白酒消塵慮 một bầu rượu trắng tiêu tan nỗi lo trần tục.

667
u51AC py:dong đông (5 n) Bộ u51AB băng (2n)
1 : Mùa đông. Theo lịch ta từ tháng mười đến tháng chạp gọi là mùa đông. Theo lịch tây thì từ tháng chạp tây đến tháng hai tây là mùa đông.

1219
u541F py:yín ngâm (7 n) Bộ u53E3 khẩu (3n)
1 : Ngâm. Ðọc thơ đọc phú kéo giọng dài ra gọi là ngâm. Như ngâm nga 吟哦, ngâm vịnh 吟詠, v.v. Người ốm đau rên rỉ gọi là thân ngâm 呻吟.

4426
u767D py:bái bạch (5 n) Bộ u767D bạch (5n)
1 : Sắc trắng. 2 : Sạch. Như thanh bạch 清白 trong sạch. 3 : Sáng. Như đông phương kí bạch 東方既白 trời đã rạng đông. 4 : Ðã minh bạch. Như kỳ oan dĩ bạch 其冤已白 nỗi oan đã tỏ. 5 : Trình bày, kẻ dưới thưa với người trên gọi là bạch. 6 : Chén rượu. Như phù nhất đại bạch 浮一大白 uống cạn một chén lớn. 7 : Trắng không, sách không có chữ gọi là bạch quyển 白卷. 8 : Nói đơn sơ. Như bạch thoại 白話 lối văn nói đơn sơ dễ hiểu.

7622
u96EA py:xuĕ tuyết (11 n) Bộ u96E8 vũ,vú (8n)
1 : Tuyết. Mưa gặp lúc rét quá rơi lại từng mảng gọi là tuyết. Khi tuyết sa xuống nó tỏa ra như bông hoa, cho nên gọi là tuyết hoa 雪花. Nguyễn Du 阮攸 : Nhất thiên phong tuyết độ Hoàng Hà 一天風雪渡黃河 một trời gió tuyết, qua sông Hoàng Hà. 2 : Rửa. Như tuyết sỉ 雪恥 rửa hổ, rửa nhục. Vạch tỏ nỗi oan ra gọi là chiêu tuyết 昭雪. 3 : Lau.

6611
u8A69 gt:u8BD7 py:shi thi (13 n) Bộ u8A00 ngôn,ngân (7n)
1 : Thơ, văn có vần gọi là thơ. Ngày xưa hay đặt mỗi câu bốn chữ, về sau hay dùng lối đặt năm chữ hay bảy chữ gọi là thơ ngũ ngôn, thơ thất ngôn. 2 : Kinh thi. 3 : Nâng, cầm.

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Hoàng Hạc Lâu thắng cảnh, huyền thoại, thơ và ảnh



Hoàng Hạc Lâu




Nếu có ai hỏi tôi muốn đi du lịch ở đâu nhất?
- Trung Quốc.
Và ở Trung Quốc nơi nào muốn đến thăm nhất?
- Hoàng Hạc Lâu ở Vũ Hán.
Tạm thời chưa có tiền và điều kiện để đi Vũ Hán – Trung Quốc, thôi kiếm tí ảnh trên net, đọc sách mà ngồi gặm nhấm cái niềm ao ước đó vậy.

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket


Truyền thuyết:
Theo sách “Liệt tiên toàn truyện” của Vương Thế Trinh đời Minh, có một câu chuyện kể rằng: Xưa có một người họ Tân, bán rượu ở chân núi Hoàng Cốc kiếm sống qua ngày. Một hôm có có đạo sĩ già ăn mặc rách rưới đến xin rượu uống. Anh bán rượu nghèo tốt bụng, thấy ông lão đáng thương, bèn cho rượu uống. Từ đấy, ngày nào đạo sĩ cũng đến xin rượu. Một hôm, đạo sĩ từ biệt anh bán rượu, nói: “Một năm qua, ngày nào anh cũng cho rượu uống, chẳng có gì đền đáp. Lão có con hạc quí, tặng anh để tỏ lòng biết ơn”. Nói rồi ông lấy vỏ cam vẽ lên tường một con hạc, dặn: “Chỉ cần anh vỗ tay là hạc sẽ bay ra nhảy múa, mua vui cho khách”. Dứt lời, đạo sĩ biến mất. Anh bán rượu làm theo, quả nhiên có hạc vàng bay ra nhảy múa. Từ đấy, khách uống rượu hiếu kì kéo đến rất đông, chẳng bao lâu, anh trở nên giàu có. Bỗng một hôm đạo sĩ quay lại nói: “Mười năm qua, tiền anh kiếm được chắc đã đủ trả chỗ rượu anh cho lão uống?”. Rồi, ông rút cây sáo thần thổi lên một khúc, gọi hạc vàng bay ra, cưỡi hạc bay đi mất. Vì thế, về sau, căn lầu xây ở nơi này được mang tên Hoàng Hạc.
Tuy nhiên, theo Vương Tượng Chi của đời Bắc Tống viết trong “Dự Ðịa kỷ thắng” thì lại ghi nhận rằng sở dĩ tháp quan sát được gọi là Hoàng Hạc Lâu là vì tháp này nằm trên Hoàng Hộc Sơn, phía tây nam của Từ Thành ngày xưa. Vào thời cổ đại, chữ Hộc (con ngỗng trời: thiên nga) trong ngôn ngữ cổ đại Trung Hoa cũng còn có nghĩa là Hạc, nên về sau người ta dùng chữ Hạc cho rõ nghĩa hơn. Từ đó, Hoàng Hộc Sơn được gọi là Hoàng Hạc Sơn. Nhưng về sau, ngọn núi nhỏ Hoàng Hạc này có hình thù ngoằn ngèo giống như Rắn nên đời sau đã lấy môt tên khác là Xà Sơn thay vì gọi là Hoàng Hạc Sơn.



Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket



Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket


Kiến trúc:
Lầu Hoàng Hạc vốn là một đài quan sát quân sự, được xây từ thời Tam Quốc, ở bờ nam Trường Giang, thuộc địa phận nước Ngô(thành phố Vũ Xương, Vũ Hán ngày nay). Đài quan sát này tồn tại được 50 năm thì nước Ngô bị diệt vong. Từ đấy không có ý nghĩa quân sự nữa. Nhưng, do được xây ở nơi phong cảnh hùng vĩ, lầu Hoàng Hạc dần dần trở thành điểm tham quan của tao nhân, mặc khách và ngày càng nổi tiếng, là biểu tượng, niềm tự hào của người dân Vũ Hán.

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket

Lầu Hoàng Hạc nguyên thuỷ là một kiến trúc bằng gỗ chạm trổ gồm ba tầng, ở trên đỉnh bằng đồng. Trải qua nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc, chịu biết bao cuộc chiến tranh huỷ diệt; rồi lại được dựng lên, sau nhiều lần trùng tu thì cho đến nay lâu Hoàng Hạc được tái sinh trở lại với sự kết tinh nhuần nhuyễn những phong cách độc đáo của Hoàng Hạc Lâu của các triều đại trước, lộng lẫy hơn nhiều gồm 5 tầng với chiều cáo 51.4 mét, ngói vàng, trụ đỏ. Các tầng mái hiên được uốn vênh lên như đôi cánh hạc. Lầu có thể chia ra làm 3 phần chính. Phần thứ nhất bao gồm cách thiết kế bên trong của tầng 1, tầng này cao hơn 10m và phần trang trí bên trong được thiết kế cho người xem hiểu ngay được về sự tích của Hoàng Hạc Lâu. Phần hai bao gồm các tầng từ tầng 2 cho đến tầng 4. Ðây là các tầng gìn giữ lại những bài thơ, những bài từ bất tử nói về Hoàng Hạc Lâu, những bức họa tranh nói về các sự kiện lịch sử từ thời tam quốc, những danh nhân của đất Sở ngày nào như Khuất Nguyên, những thi tài Lý Bạch, Thôi Hiệu, danh tướng Tống Nhạc Phi, những kiến trúc cũ của Hoàng Hạc Lâu đời Ðường, đời Nguyên, Minh, Thanh..v..v. được trưng bày tại đây để mọi người thưởng ngoạn. Phần ba bao gồm tầng 5 cũng là tầng cao nhất của Lầu. Ðứng ở đây, người ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, nhìn dòng sông Trường Giang và Hán Thủy hợp lưu lại thành hình một chữ “Nhân” trong Hán tự .


Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket



Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket


Các bài thơ về Hoàng Hạc Lâu:
Theo tài liệu văn học Trung Quốc thì có khoảng 300 bài thơ tả cảnh lầu Hoàng Hạc, nhưng chỉ có bài thơ của Thôi Hiệu đời Đường là xuất sắc nhất, phổ thông nhất, có giá trị nghệ thuật vượt không gian và thời gian, được lưu truyền mãi cho đến ngày nay. Tương truyền, khi “Thánh thi” Lý Bạch đến lầu Hoàng Hạc du ngoạn, định đề thơ, nhưng đọc xong thơ Thôi Hiệu đã đề trước đó, ông đành nghiêng mình gác bút, ngửa mặt lên trời mà than rằng :“Nhãn tiền hữu cảnh đạo vô tắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (Cảnh đẹp nhường kia sao khó viết, Trên đầu Thôi Hiệu đã đề thơ). Để ghi nhớ giai thoại văn học “Thôi Hiệu đề thơ, Lý Bạch gác bút” thú vị này, ngày nay ở phía Nam lầu Hoàng Hạc, người ta xây dựng “Đình gác bút”, làm điểm tham quan, dừng chân cho du khách.
Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket
Còn với các thi sĩ Việt Nam, khi đi sứ sang nhà Thanh, Nguyễn Du cũng qua lầu Hoàng Hạc và viết bài Hoàng Hạc Lâu:
黃鶴樓 Hoàng Hạc lâu
阮攸 Nguyễn Du
何處神仙經紀時 Hà xứ thần tiên kinh kỉ thì
猶留仙跡此江楣 Do lưu tiên tích thử giang mi
今來古往盧生夢 Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng
鶴去樓空崔顥詩 Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi
軒外煙波空渺渺 Hiên ngoại yên ba không diểu diểu
眼中草樹尚依依 Nhãn trung thảo thụ thượng y y
衷情無限凴誰訴 Trung tình vô hạn bằng thùy tố
明月清風也不知 Minh nguyệt thanh phong dã bất tri
Lầu Hoàng Hạc

Nào thuở tiên đi mãi đến giờ ,
Dấu tiên bên bến đứng trơ vơ .
Xưa qua nay lại Lư dồn mộng ,
Hạc khuất lầu không Hạo để thơ .
Thăm thẳm nước mây ngoài vạn dặm ,
Dờn dờn cây cỏ vẫn nghìn xưa .
Nỗi lòng ấp ủ cùng ai tỏ ?
Gió mát trăng trong luống hửng hờ .
(Quách Tấn dịch)
Chưa hết, những bài thơ về lầu Hoàng Hạc của Thôi Hiệu và Nguyễn Du, lại khiến cho một tài thơ khác có một nỗi đồng điệu, đó là nhà thơ Vũ Hoàng Chương với bài thơ cùng tên Hoàng Hạc L âu:
Hoàng Hạc Lâu
- Vũ Hoàng Chương -
Đã bao giờ có hạc vàng đâu
Mà có người tiên để có lầu!
Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở
Lầm Thôi Hiệu trước Nguyễn Du sau.
Hạc chưa thoát khỏi mê hồn kịch
Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu
Trăng gió hão huyền như khói sóng
Nồi kê đã chín nghĩ mà đau

Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket



Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket



Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket



Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket



Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket



Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket



Photo Sharing and Video Hosting at Photobucket