Trang Chủ, Dấu Chân lãng tử,

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tình Yêu Cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tình Yêu Cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

TỤNG CA HOA HỒNG (TIẾP THEO) - ĐÓA HỒNG ĐẦU ĐỜI


ĐÓA HỒNG ĐẦU ĐỜI







Tôi có một kỷ niệm về hoa hồng đầu đời!
Tôi hay lang thang một mình ở đồi núi Dương Xuân (Phía Nam Tp. Huế). Đấy là vùng đồi thoai thoải trải dài hết hai phần xã Thủy Xuân, một phần xã Thủy Biều, Tp. Huế. Trong khu vực này còn lại nhiều đi tích thời nhà Nguyễn: chùa chiền, đền đài, miếu mạo, ... còn phần lớn là đồng ruộng, nghĩa trang.
Nơi tôi thường rong ruổi là vùng đồi hoang dại, được hình thành là loại đất trộn lẫn sỏi đỏ (bazan), thỉnh thoảng còn sót lại vài khoảnh rừng nguyên sinh. Vùng này có rất nhiều loài hoa cỏ dại, mọc um tùm trên các lối đi sỏi đỏ dọc theo suối nước chảy róc rách và trên các nghĩa trang. Tới mùa hoa sim nở tím ngát cả vùng.
Đi dọc theo khe nước nhỏ  (từ đỉnh đồi Dương Xuân chảy ra sông Hương), gồm: đình làng Dương Xuân Hạ, Giếng cổ, đền thờ Sơn Thần, miếu Âm Hồn,... Xa hơn chút là miếu thờ Chế Bồng Nga, Thành Lồi, đền Voi Ré, khu Hổ Quyền, ... đâu cũng đầy âm khí.
“Thứ nhất là đỉa Bầu Va, thứ nhì là ma Thành Lồi”
Đầu năm 1973, tôi đi thả rông ở khu rừng Thành Lồi (Huế) đến tối mịt mới lần hồi mò về nhà. Tôi mãi xem “cầu cơ” ở khóm rừng hoang do một nhóm thanh niên nam nữ  bày chơi trò ú tim.
Tôi nói sơ lược một ít về trò này.
“Cầu Cơ” là một loại hình giao tiếp “âm dương”. Dụng cụ: gồm một tấm ván rộng như bàn cờ tướng, trên đó ghi các mẫu tự a, b,c ... gồm 24 chữ cái, và một con trược có hình con cơ (trái tim). Cả 2 dụng cụ đều được lấy từ ván đóng hòm (hòm đựng xác chết), mà phải là loại hòm chôn xác trinh nữ (con gái còn trinh tiết), mộ được khai quật để di dời, hoặc được nhặt nhạnh tại các nghĩa trang.
Trò “cầu cơ” để tiếp xúc cõi âm ít nhất 3 người, cả 3 phải tịnh thân (không được ăn thịt chó, không được ngủ với phụ nữ trước đó ít nhất 3 ngày, không đeo tượng Phật và Thánh giá trên người). Có thêm một bàn nhỏ để đặt lễ: hoa quả, nước lã, trà bánh và đèn hương. Một người làm chủ lễ để đọc lời khấn dâng hương cầu thỉnh thánh đức, quỹ thần, vong hồn, ma mị, ... chứng giám.
Người thứ hai tắm rửa sạch sẽ, rửa tay bằng rượu đế, đặt tay lên con cơ, ngồi im lặng cầu nguyện và chờ đợi. Người thứ 3 đọc lời cầu khẩn vong hồn nhập cơ hiện về và tiếp khách có nhu cầu tìm vong.  
Ví dụ: mình cần gặp người thân đã mất: họ hàng, bố mẹ, thân hữu, người yêu, ... thì ghi tên tuổi, ngày tháng năm mất.
Khi vong nhập cơ, tự động cơ sẽ chạy trên bàn chữ cái một cách vô thức với người cầm cơ, để giới thiệu vong là ai, tên gì, chết ở đâu, ngày nào, có nguyện vọng gì, ... theo câu hỏi của người khấn.
Khách có thể yêu cầu gặp ai, thông qua người khấn để được đáp ứng.
Đây là một trò chơi quỹ mị, huyền bí, có khi đúng, có khi chẳng thiêng.
Tôi chỉ đứng tò mò xem các anh chị cầu cơ chứ không tham gia gì.
Đến khi trời tối mịch vẫn chưa dứt.
Khi tôi trở về nhà trời đã tối, lòng lo sợ sẽ bị mắng và nỗi sợ hãi về các vong hồn, quỹ mỵ vẫn còn ám ảnh.
Tôi tránh mặt ba mẹ không dám chào vì sợ bị mắng đi chơi về trễ. Tôi lần vào thì va phải một người ngồi ru rú góc bếp. Giật mình nhìn lại, thì ra một bé gái, độ tuổi tôi (khoảng 10, 11 tuổi), cô bé giương mắt sợ hãi nhìn tôi không nói gì? Tôi kinh ngạc nhưng không hỏi gì chỉ cất lời xin lỗi rối rít.
Một hồi, tôi lên nhà trên, ba mẹ tôi xuất hiện, không la rầy gì, gọi tôi lại và bảo: Nhà ta hôm nay có một thành viên mới, ba mẹ nhận làm con nuôi. Rồi ba tôi cất tiếng gọi: - Bé Hương ơi!
Không nghe tiếng trả lời, mẹ tôi lần dò xuống bếp tìm và dẫn cô bé lên, tôi bẽn lẽn nhìn thoáng qua.
Hương có khuôn mặt trái soan, da trắng hơi tái, đôi mắt buồn ủ rũ, mặc bộ đồ xám đen kiểu nhà quê có vài miếng vá. Trông cô bé đang run lẫy bẫy.
Mẹ bảo: Con đến đây, hai đứa nhỏ cùng tuổi, đo xem, đứa nào cao hơn làm anh hoặc chị. Tôi xấu hỗ tần ngần xích lại gần Hương.
Mẹ bảo nắm tay em cho thân thiện, tôi không dám cầm, tìm cách chạy đi.
Từ đó, tôi có có thêm đứa em gái cùng tuổi, trong khi hiện ở nhà, Ba Mẹ tôi đã sinh 8 người con (mất 3 đứa khi còn bé). Tính thêm Hương là 6, chưa kể 3 đứa đã mất.
Khi mất người con thứ 3, mẹ tôi đi xem bói, thầy bảo: nhà bị phạm phong thủy, và có bà cô tam đợi (ba đời) không có chồng con, hay về bắt con cháu đi theo hầu hạ nên phải chuyển nhà gấp. Thứ hai, sau khi chuyển nhà phải cưới vợ hai cho chồng hoặc phải nhận thêm con nuôi. Mẹ tôi sắm sửa lễ vật và làm lễ tạ rất lớn, sau đó thực hiện theo lời thầy bói.
Hương có mặt là vì lý do này, tôi chỉ hiểu thế.
Tôi và Hương cùng tuổi, tính tình gần như giống nhau: hay rụt rè, hiếu động, u buồn và thui thủi một mình.
Tôi thường nhìn Hương với đôi mắt tò mò và muốn kết thân. Nhưng Hương lặng lẽ quá, tôi ngại.
Sau này tìm hiểu, tôi mới biết, Hương sinh tại làng quê nghèo tên là Mỹ Lợi, một vùng ven biển thược xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, Huế. Làng nỗi tiếng sinh con gái giỏi giang, chăm làm, nết na vì gieo trồng cây gì ở vùng đất này cũng phải tưới nước một ngày hai, ba bận, vùng ven biển toàn cát, phải tưới nước lên tục kẻo cây chết. Con gái ở vùng này chuyên gánh nước hằng ngày tưới ruộng, tưới hoa màu, tưới cây ăn quả trong vườn. Nhà Hương nghèo, bố mất sớm, có năm anh chị em, Hương là con thứ hai như tôi.
Hương tuy bé mà đã tập làm bếp, đi chợ, làm việc nhà, ... với cô osin trong nhà. Hương không cùng ăn tại bàn ăn với chúng tôi. Cả nhà ăn xong, Hương phụ dọn bát đĩa sau đó cùng ăn với cô giúp việc. Tôi để ý thấy áy náy, chẳng biết làm gì, thỉnh thoảng lén để dành thức ăn cho Hương: quả ngô luộc, củ khoai nướng, chén chè đậu xanh, ...
Hương học việc rất nhanh, chẳng bao lâu đã thành thạo. Có thể thay osin để quán xuyến việc nhà. Hương có biệt tài nấu nướng, chăm làm và khéo tay, khi nhìn Hương thái rau cả hai tay tôi mê mẩn, thán phục. Hương làm thức ăn cũng vậy, khéo sắp đặt và mâm cơm nhìn sạch sẽ, tươm tất và rất đẹp.
Hương không biết đọc và không biết viết, nhưng thông minh lạ kỳ, tôi thường bỏ thì giờ kèm cặp cho em, Hương học nhanh, chẳng mấy chốc đã thuộc bảng chữ cái và bảng cửu chương.
Một đôi lần gì đó, tôi rủ Hương lang thang cùng tôi khắp núi đồi Dương Xuân, tôi tìm hái sim cho Hương, bẻ những bông hoa mua cho em chơi và chỉ cho em những tổ chim cút, chim chích trên cao. Hoặc chỉ cho Hương con đường kiến đi, những tổ mối đùn đất cao, Hương tỏ ra thích thú.
Lần đầu tiên tôi nắm bàn tay Hương để viết những chữ cái tên hai đứa: Thu Hương, Anh Ly lên đất mịn, bàn tay em mềm và lạnh, em cười vui và đôi mắt sáng long lanh khi viết được tên mình. Lúc về, ngoài những bông hoa hái được, hai đứa còn nhổ những cành hoa dại về ươm ở vườn nhà. Trong đó, có một cây hoa hồng dại, non nớt, bé xíu như một biểu tượng của tình yêu thời bé bỏng.




Vào một đêm rằm giữa tháng, khoảng 9g đến 10g tối tôi bước ra sân trăng, thoáng thấy một bóng trắng ngồi trên tấm bình phong, tôi ngờ ngợ là bóng hắt của đèn neon. Nghĩ vậy, tôi liền gọi Hương ra xem ma. Hương sợ không dám ra, tức thì bóng trắng bay ngược lên tàng cây khế, tung một vùng sáng lóa như hỏa châu. Tôi sợ khiếp vía, bà nội tôi chạy ra ôm tôi vào lòng đưa vào nhà. Có ông hàng xóm say rượu gọi ơi ới ngoài ngõ: “Chị Ba, chị Ba, ai bắn pháo sáng à, làm chi sáng rực rứa?!”. Một cơn đau bụng quằn quại xuất hiện như có ai chà xát da thịt, tôi phát hoảng ôm bụng, vừa khấn niệm sám hối vừa rên la nức nở. Một hồi thì đỡ.
Sau đó mấy phút, bà nội tôi biết chuyện, dẫn tôi ra miếu nhỏ trước cửa nhà, lên nhang đèn hoa quả khấn vái, bắt tôi lạy xì xụp. Hương cũng chạy ra cùng quỳ lạy với tôi, hai đứa chụm đầu lạy một hồi, mặt mày tái xanh lo sợ.
Một vài lần sau đó, tôi có dịp, cũng tình cờ thôi, lúc thấy thường chẳng tin, những bóng ma thấp thoáng trong vườn, ngoài ngõ, nhất là vào đêm trăng. Có khi một hoặc hai xuất hiện. Từ tuổi bé thơ tôi đã tin là có cõi âm.
Một lần, tôi trêu Hương bằng cách gọi Hương ra xem cái này hay lắm! Hương hý hửng chạy ra sân sau vườn nhà, thấy một bé trai đang ị, Hương tái mặt khóc òa nức nở vì tổn thương. Tôi kinh hoảng hối lỗi, nhưng không biết làm sao dỗ dành Em. Tôi đành khóc theo.
Sau đó mấy ngày Hương không thèm nhìn mặt tôi.
Lần đó, tôi tự hứa với mình, suốt đời tôi sẽ chẳng bao giờ làm gì để Hương buồn nữa. Tôi tự hứa, mình sẽ quan tâm, chăm sóc em nhiều hơn nữa, tôi biết mình đã yêu thương Hương như ruột thịt.
Nhưng định mệnh không cho tôi thực hiện lời hứa đó.
Chúng tôi cùng lớn lên bên nhau, chậu hồng dại đã lên cao, chỉ có những nụ hoa bé tí, hương nhẹ phảng phất đâu đó.
Hương càng lớn càng xinh xắn, môi hồng, nụ cười có má lún đồng tiền, da trắng mịn màng. Nhất là đôi mắt Hương, thừa hưởng của mẹ, đen nhánh và u buồn. Hương hay đứng tựa cửa nhìn ra bầu trời xa xăm, chắc Hương nhớ nhà, những người thân yêu, mảnh vườn, đồng ruộng. Tôi lặng lẽ nhìn Hương. Giây phút Em càng đẹp mơ màng, trinh tuyết.
Sau 1975, gia đình tôi chuyển về miền quê, đời sống xuống dốc trầm trọng theo hoàn hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước. Nghe tin là bố Hương không mất, chỉ đi tập kết miền Bắc, vì sợ tai họa nên chỉ báo tử giả. Gia đình Hương xin Hương về quê thăm bố.
Sau đó, Hương có lên nhà tôi ở lại một thời gian. Khoảng năm 1978 thì Hương được gia đình lên xin ba mẹ tôi về hẳn, không có dịp gặp nhau nữa. Đất nước càng khó khăn thêm.
Từ đó tôi thất lạc Hương hoàn toàn.
Tôi có lặn lội về quê tìm Hương mấy lần, lần cuối hỏi ra mới biết gia đình Hương chuyển đi vùng Kinh tế mới tận Đăklăk vào năm 1979. Vô vọng.
Mãi đến năm 1990, tại Phong Sơn, Huế, tình cờ gặp một người cùng quê với Hương, tôi liền hỏi thăm. Anh ta kể về gia đình Hương gặp khó khăn về kinh tế, túng quẩn, lam lũ. Hương đã lấy chồng ở Đăklăk, sinh 3 đứa con. Chồng Hương nát rượu, phá tán, đánh đập Hương hoài.
Tôi nghe chuyện xót xa, gởi một ít quà cho Hương. Chẳng biết tới tay Hương không?
Chậu hoa hồng dại tôi đem về quê, tưới tẩm hàng ngày, không chịu ra hoa.
Sau đó cũng thất tán như Hương.




Một lần, tôi nằm mơ thấy Hương về, một bóng đen chạy từ một hành lang sâu thẳm rồi nhô lên, hai tay bám vào song cửa gào thét dọa tôi. Tôi bảo: Anh nhìn ra Hương rồi, đừng hù dọa nữa, em vào nhà đi. Hương lặng lẽ bỏ đi, tôi gọi: Hương! Hương!.. chới với, ... rồi tỉnh ngủ.
Giấc mơ làm tôi lo lắng rất nhiều về Hương. 
Tôi vẫn mang hoài vọng gặp Hương trong một dịp nào đó...
Dịp Xuân vừa rồi, tôi tìm mua rất nhiều hoa hồng tại phố Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội, trong đó có một chậu hồng bé tí, cũng loại hoa hồng dại, tôi đem về chăm bẳm.
Tôi sẽ nhớ Hương khi tưới tẩm chậu hoa. Mong mỏi chậu hồng ra hoa, tỏa hương thầm.
Mong mỏi Hương bình an, thoát khỏi tai ách, khổ não.
Sống đời hạnh phúc.
Lòng tôi ấm lại.



17. HNG HƯƠNG 1

Em là nụ hoa huyền
Hương trinh tròn mười sáu
Anh làm chim vành khuyên
Hót bên trời thơ ấu


Em là người em gái
Vương mộng tím đồi sim
Như cỏ cây hoang dại
Sinh sôi rồi lặng thinh


Lạc Em giữa vô biên
Nụ hồng hương tinh khiết
Biết bao giờ đoàn viên?


18 . HNG HƯƠNG 2

Mắt Hương dưỡng chất u hoài
Buồn thương ngây dại thoảng vài đợi trông
Anh tìm dịu ngọt lén trông
Đôi lần Hương cũng như chừng nghe ra
Rồi Xuân Hạ Thu ...qua
Đông hàn ngóng đợi, tình xa khôn cùng
Quảng đời kỳ bạt mông lung
Hương Em ảo giác chập chùng tìm đâu?

19 . HNG HƯƠNG 3

Sóng đời xô dạt hồn anh
Xuôi theo dòng chảy bao lần nổi trôi
Nào cơm nào áo rối bời
Câu thơ nghe cũng ngậm ngùi xót xa.
Mong có Em được cười òa
Mặc nghìn sóng dội, ngọc ngà: còn Em!

Hà Ni, 22. 4.2012
HTLT




CHÚ THÍCH:

• PHANXIPĂNG
Bí ẩn
Thành Lồi
Thuở bé, ở Huế, tôi sống cùng gia đình trong ngôi nhà vườn bên hữu ngạn dòng Hương, tại khu vực Phường Đúc, chỉ cách Thành Lồi một quãng ngắn. Hồi đó, thường cùng chúng bạn chơi “độn” Thành Lồi suốt, nên tôi khá thuộc địa hình địa vật nơi này. Lớn lên, tò mò tìm hiểu về Thành Lồi, tôi được nghe nhiều chuyện ly kỳ do bà con địa phương kể, lại được biết thêm lắm điều thú vị thông qua sách báo. Bây giờ đi xa, thỉnh thoảng mới về thăm cố xứ, song lần nào về thì tôi đều không quên ghé Thành Lồi vì những lý do riêng. Thoạt trông ngỡ chẳng có gì đặc biệt, nhưng phế tích ấy cho tới nay vẫn là một tồn nghi của lịch sử và là nguyên nhân gây bao cuộc tranh luận học thuật.
   







LỒI LÀ GÌ?

     Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 7km về phía tây nam, trên địa bàn hai xã Thuỷ Xuân và Thuỷ Biều cùng một phần Phường Đúc, hiện còn một luỹ đất vắt ngang đường Huyền Trần Công Chúa (1). Đó là dấu tích sót lại của Thành Lồi.

     Sao gọi là Lồi? Chỉ riêng cái địa danh nghe khá lạ lẫm cũng đủ làm nẩy sinh nhiều kiến giải.

     Học giả Léopold Cadière (1892 - 1955) nhận xét rằng từ Lồi nếu “dùng để chỉ thành quách thì người Việt không tìm ra cách giải thích nó” nhưng nếu dùng để chỉ tượng thì “hầu như khắp nơi người ta giải thích là từ đất trồi lên” (2). Ví dụ: tượng Phật Lồi, tượng Bà Lồi. Tuy nhiên, qua cách dịch Thành Lồi là Remparts Chams (BEFEO, 1905) hoặc Mur Cham (BAVH, 1925), ắt hẳn L. Cadière hiểu từ Lồi trỏ dân tộc Chăm, còn gọi Chàm / Chiêm / Chiêm Thành / Hời / Cam / Căm / Chămpa.

     Tự vị Annam Latinh (3) do Pierre Pigneau de Béhaine tức Bá Đa Lộc soạn năm 1772 - 1773, bản dịch của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên (NXB Trẻ, 1999), ghi: “Lồi: giô ra. Quân Lồi: người nước Chàm”. Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của in năm 1895 cũng ghi: “Lồi: trồi lên, nổi lên. Người Lồi: người Chiêm Thành thuở trước”. Loạt từ điển của G. Hué (1937), J. L. Taberd (1838), B. Bouin (1957), J. F. M. Génibrel (1858), J. Bonet (1899), v.v., đều ghi nhận và cắt nghĩa tương tự.

     Trên tập san Sử Địa số 17 - 18 (Sài Gòn, 1970), Tạ Chí Đại Trường đưa cách giải thích khác: “Các nông phu Việt làm ruộng gần núi, hằng năm phải nhặt một lượng đá trong ruộng ném lên bờ. Họ không hiểu rằng mưa lũ cuốn đá trôi xuống ruộng họ hay xâm thực cuốn bùn, trơ đá ra, mà họ cứ cho rằng đá dưới ruộng cứ tự động trồi lên nên họ gọi là hiện tượng đá mọc, đá lồi. Bởi vậy, nếu họ có thấy trong đống gạch đổ nát sau cơn binh lửa lâu đời, lồi ra một tượng thần Civa hay Ponaga… rồi hoặc đem về chùa miễu thờ, hoặc xây ngay am miếu nơi đó để gọi là Phật Lồi, Bà Lồi, chùa (Phật) Lồi, miễu (Bà) Lồi… thì ta cũng không nên lấy làm lạ mà tìm nghĩa ở đâu xa”.

     Trên tờ Thông tin khoa học và công nghệ số 2 (Huế, 1991), Hoàng Dũng cho rằng: “Dù sao, lý giải của Tạ Chí Đại Trường chỉ thuần tuý giả định, mà hoàn toàn không dựa trên cứ liệu cụ thể xác đáng nào”. Tra cứu Từ điển Việt - Bồ - La (4) của Alexandre de Rhodes tức A Lịch Sơn Đắc Lộ in năm 1651 tại Roma, thấy ghi: “Mlồi, nước Mlồi: vương quốc Chàm”. Từ đó, Hoàng Dũng lập luận: “Ta biết rằng ml của tiếng Việt trung đại theo quy luật sẽ rụng m để chỉ còn l trong tiếng Việt bắc Trung bộ và Nam bộ. Ví dụ: mlầm - lầm, mlời - lời, mlớn - lớn (…). Một khi đã xác định được hình thức ngữ âm của Lồi (Chàm) xưa là Mlồi thì đồng thời cũng khẳng định được nguồn gốc của từ này: Lồi là sản phẩm của người Việt, dùng để chỉ người Chàm, chứ không phải là người Việt vay mượn một từ Chàm nào đó. Lý do là hệ thống ngữ âm của tiếng Chàm tuy có âm m l nhưng không thể có tổ hợp phụ âm ml và cũng chưa có tài liệu nào chứng minh tiếng Chàm trong lịch sử từng có tổ hợp phụ âm ml”.

     Thế nhưng, bài văn cúng tá thổ (thuê mướn đất) trong dân gian từ Thừa Thiên tới Quảng Nam lại có những câu:

     Lồi, Lạc thương vong
     Chàm, Chợ, Mọi rợ
     Đăng chủ hương hồn
     Đồng lai cộng hưởng.


     Căn cứ vào đấy, Nguyễn Văn Xuân nêu ý kiến đáng chú ý trong sách Địa chí Đại Lộc (NXB Đà Nẵng, 1992): “Vậy Lồi là một sắc dân có thật, không phảỉ là Chàm, chỉ bị người sau vì thói quen đồng hoá với Chàm. Văn tế minh xác điều ấy, không thể lầm lẫn được”.

_________________________________

(1) Tên đường Huyền Trân Công Chúa mới đặt từ ngày 17-5-1996 theo quyết định số 787/QĐ của UBND TP Huế. Chứ trước kia, giai đoạn 1956 - 1976, đường Huyền Trân Công Chúa là đường Bùi Thị Xuân ngày nay.
(2) Sortir de terre
(3) Dictionarium Annamitico Latinum
(4) Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum

Một đoạn luỹ nam Thành Lồi hiện tại (1)
Photo: Phanxipăng

 
 Một đoạn luỹ nam Thành Lồi hiện tại (2)
Photo: Phanxipăng 

 Một đoạn luỹ nam Thành Lồi hiện tại (3)
Photo: Phanxipăng 


MẤY CHUYỆN KHẨU TRUYỀN

     Bao đời nay, cư dân quanh vùng Thành Lồi ở Huế vẫn lưu truyền chuyện kể rất hấp dẫn về sự xuất hiện phế tích này. Người ta kể đi kể lại hoài, không chán. Chuyện như sau.

     Vào năm Bính Ngọ 1306, thời Trần, nhờ cuộc hôn nhân chính trị giữa công chúa Huyền Trân với quốc vương Chăm là Chế Mân tức Jaya Simhavarman III, nước Đại Việt nhận được sính lễ vô giá gồm hai châu Ô - Ry (5). Năm sau, vua Trần Anh Tông cử tướng Đoàn Nhữ Hài chính thức tới tiếp quản và đổi tên hai châu là Thuận Hoá. Cũng năm đó, Chế Mân đột tử. Theo tục lệ nước Chăm, vua chết thì hoàng hậu lẫn phi tần đều phải lên giàn hoả thiêu chết theo. Nghe tin, vua Trần Anh Tông rất lo ngại cho tính mạng em gái mình, liền sai tướng Trần Khắc Chung cầm đầu sứ bộ qua Chăm thác cớ phúng điếu rồi tương kế tựu kế cứu Huyền Trân đưa về Thăng Long. Sự kiện nọ làm triều đình nước Chăm nổi giận. Vị tân vương là Chế Chi tức Jaya Simhavarman IV điều 5 vạn binh mã, giao cho một viên tướng mặt đen, râu xồm, tên Lồi, chỉ huy quyết tái chiếm phần lãnh thổ đã nhượng.

     Quân Chăm ào ạt tiến sát bờ sông Trong tức sông Hương thì không thể nào dấn thêm vì vấp phải sức kháng cự uy mãnh của quân dân Đại Việt. Sau một thời gian giao tranh bất phân thắng bại, tướng Lồi đề nghị hưu chiến để thương lượng với tướng Đoàn Nhữ Hài. Đôi bên đàm phán khá lâu, rốt cuộc chấp nhận thoả ước: “Nội trong một đêm, mỗi bên xây một luỹ thành, bên nào cao hơn thì thắng, bên thua phải tự rút quân ngay để khỏi sát hại sinh linh”. Thoả ước đó khiến quân dân Đại Việt lo lắng, bởi ai cũng biết xây thành đắp luỹ là sở trường của người Chăm. Thế mà tướng Đoàn Nhữ Hài tỏ vẻ quá ung dung, quá tự tin.

     Khi chiều buông, hồi trống thu không vừa điểm, đó cũng là tín hiệu cuộc so tài bắt đầu, toàn bộ quân Chăm hối hả kẻ đào người đắp, cố tạo bức tường đất trên mấy ngọn đồi gần bờ sông. Nhòm qua bên kia, thấy quân Việt vẫn nhởn nhơ đùa giỡn hoặc thong thả uống ăn, quân Chiêm không khỏi nực cười. Hừng đông, chiêng trống vang rền, báo hiệu cuộc so tài kết thúc. Tướng Lồi cùng toàn thể quân Chăm quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy bên phía quân Việt đã mọc lên toà thành đồ sộ và cao ngất bằng vôi gạch, có cả cổng chính lẫn cổng phụ cùng vọng lâu cắm đầy cờ xí. Trên vọng lâu, tướng Đoàn Nhữ Hài ngồi chễm chệ giữa đám lính hầu.

     Quân Chăm buồn rầu rút lui đúng theo thoả ước. Họ đâu ngờ toà thành của quân Việt cấp tốc dựng lên trong đêm toàn bằng phên tre được sơn phết, trang hoàng y như thật. Còn dấu tích luỹ thành đắp bằng đất bên mạn nam sông Hương được dân chúng gọi Thành Lồi nhằm ghi nhớ viên tướng từng đốc thúc quân Chăm dốc sức đào đắp suốt đêm. Đất đào chủ yếu ở gần đó, nay là hồ nước to trước miễu Long Châu tức điện Voi Ré, cạnh đồi Long Thọ.

     Chuyện trên đã được Nguyễn Chí Thành sưu tầm rồi viết nên “truyện ký” mang tiêu đề Gốc tích Thành Lồi ở Huế đăng trên tập san Khai Trí Tiến Đức số 4 (Hà Nội, 1941). Dựa vào tư liệu ấy, Nguyễn Đổng Chi soạn Sự tích Thành Lồi để đưa vào tập I bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã được in đi in lại nhiều lần từ năm 1957 đến nay. Sự tích Thành Lồi cũng được thuật lại trong cuốn Văn học dân gian Bình Trị Thiên do Đại học Sư phạm Huế ấn hành năm 1988.

     Điều lý thú là qua bộ sách vừa nêu, học giả Nguyễn Đổng Chi (1915 - 1984) đã dày công “khảo dị”, thu thập nhiều dị bản của Sự tích Thành Lồi mà trong đó có cả truyện của dân tộc Chăm như Sự tích tháp NhạnSự tích vua Kơlong Garai xây tháp thi. Truyện sau kể rằng vua Kơlong Garai tức vua Lác chiến thắng một vị vua Tây Nguyên là Pô Tầm rồi chiến thắng luôn người Kơru / Chân Lạp nhờ thi xây tháp và mưu mẹo dựng công trình bằng giấy. Nguyễn Đổng Chi phát biểu:

     - Tôi ngờ rằng Sự tích Thành Lồi Sự tích Tháp Nhạn phần nào bắt nguồn từ Sự tích vua Kơlong Garai xây tháp thi.

     Nếu đúng thế thì chuyện kể về nguồn gốc Thành Lồi ở Huế vốn là một tác phẩm văn học dân gian của người Chăm xưa đã được tái tạo và phát triển qua quá trình Việt hoá / Kinh hoá. Cũng không loại trừ khả năng tiến trình kia diễn biến theo chiều ngược lại: chuyện của người Kinh đã được người Chăm tiếp thụ rồi phóng tác.

     Bài viết này sẽ trở lại với tác phẩm folklore ấy. Bây giờ, chỉ xin nêu thêm đôi mẩu chuyện truyền miệng tại địa phương liên quan đến phế tích Thành Lồi với sự đối chiếu thư tịch khi cần thiết. Đó là chuyện kể về miếu Hời, mụ Hời và… ma Hời.

_________________________________

(5) Châu Ry còn được gọi Rý và Lý

Quang cảnh nhìn từ "độn" Thành Lồi
Photo: Phanxipăng


  
Quang cảnh nhìn từ "độn" Thành Lồi
Photo: Phanxipăng


   Rằng xưa, tại Thành Lồi có ngôi miếu thờ quốc vương Chăm các đời. Dân quanh vùng gọi đó là miếu Mọi, miếu Hời, miếu Chiêm Thành. Miếu do chính vua Minh Mạng cho lập năm Quý Tị 1833, thường niên đều cử quan văn hàm tòng tam phẩm đến tế lễ xuân thu nhị kỳ. Chi tiết này đã được thể hiện qua vài tài liệu khả tín, chẳng hạn Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn.

     Giai đoạn thuộc Pháp, kiến trúc sư Bossard thiết kế đồ án nhà máy nước Vạn Niên ở gần lăng Tự Đức. Công trình đó được xây xong vào năm Tân Hợi 1911. Sau đấy, chính phủ bảo hộ quyết định phóng trục lộ từ bến Chung bên bờ sông Hương, cạnh giáo đường Trường An tức nhà thờ Phường Đúc, lên Vạn Niên. Ấy là con đường Huyền Trân Công Chúa hiện nay.

     Tuyến đường xuyên qua Thành Lồi và băng ngang miếu Hời nên ngôi miếu bị triệt giải. Sự kiện đó lập tức khiến đồng bào dân tộc thiểu số tại Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam phản ứng dữ dội. Không chỉ số ít người Chăm, mà cả những người Katu, Tàôi (Pacoh) và Bru (Vân Kiều) kéo nhau về biểu tình trước Toà Khâm phía đầu cầu Trường Tiền. Chính quyền thực dân đương thời buộc phải xây một ngôi miếu khác tại vùng Thành Lồi để đền bù thay thế. Trước niên điểm 1945, miếu thường xuyên được một mệnh phụ người Chăm trông nom chu đáo. Dân chúng vẫn gọi bà là mụ Hời.

     Trong trang phục Chăm truyền thống kiểu quý tộc với nhiều trang sức bằng quý kim, mụ Hời ngày ngày thường xuống chợ Hổ Quyền tức chợ Long Thọ để mua sắm nhu yếu phẩm. Người ta nhớ lại: mụ Hời vóc dáng nhỏ nhắn, lúc nào cũng nghiêm nghị, đi đứng thong thả, ít khi nhìn ai hoặc trò chuyện với ai. Ắt túng bấn quá nên đôi lần mụ Hời dạm bán vòng vàng xuyến bạc đang đeo, song chẳng người nào dám mua vì thiên hạ ngại rằng nếu dùng của nọ thì sẽ bị… ma Hời ám!

     Năm 1959, mụ Hời lặng lẽ từ trần và được an táng ở âm phần đã xây sẵn gần miếu Hời theo lối kiến trúc khác hẳn lăng mộ người Kinh. Nghe đồn thỉnh thoảng giữa đêm hôm khuya khoắt, mụ Hời hiện hồn khóc rấm rứt cùng cả đám ma Hời trên “độn” Thành Lồi (?!).

     Gần đây, chuyện miếu Hời và chuyện ma Hời được Thân Trọng Tuấn hồi tưởng trong tuyển tập Tiếng sông Hương (Texas, 1994) rồi được bác sĩ Bùi Minh Đức đưa vào Từ điển tiếng Huế (NXB Tâm An, California, 2001). Ngoài việc liên hệ tục lệ cúng xà lẹc (tiếng Chăm là talek) tức thức ăn bỏ trong bẹ chuối gập lại và đặt nơi cổng nhà dành cho ma Hời, từ điển này còn tô điểm cho mục từ ma Hời bằng đôi câu thơ rờn rợn ấn tượng trích từ thi tập Điêu tàn (1937) của Chế Lan Viên:

     Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
    Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi


  
 Núi Kim Phụng nhìn từ "độn" Thành Lồi.
Photo: Phanxipăng

  
Nhà máy vôi - ximăng Long Thọ nhìn từ "độn" Thành Lồi.
Photo: Phanxipăng

Hồ nước trước miễu Long Châu tức điện Voi Ré, cạnh đồi Long Thọ.
Photo: Phanxipăng

MIẾU HỜI VỚI “ĐỘN” THÀNH LỒI

    Phế tích Thành Lồi nằm trên dãy gò đồi có độ cao dao động 30 ~ 50m so với mặt biển. Do đó, bà con quanh vùng quen gọi nơi đây là “độn” Thành Lồi. Từ “độn”, nếu ký âm sát hơn phải ghi “độộng” - phương ngữ Huế dùng chỉ những nơi cao như gò, đồi, thậm chí cả núi. Ví dụ: ngọn núi cao 1.448m lừng danh về du lịch sinh thái ở Cầu Hai (Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế) vẫn được người địa phương gọi “độn” Bạch Mã. Có lẽ do lỗi ấn công, mấy chỗ trong Từ điển tiếng Huế của Bùi Minh Đức (như các trang 297 và 310) đã in nhầm ra “đồn” Thành Lồi. Thực tế tại đây chẳng có đồn bót.

    Xét câu chuyện dân gian giải thích sự xuất hiện Thành Lồi ở Huế, dễ thấy rằng từ Lồi chưa hẳn là tên riêng có thật của viên tướng Chăm xưa từng đốc thúc ba quân đào đắp luỹ thành này. Ngay phương ngữ Huế có cụm từ “nổi ma Lồi” nhằm chỉ thái độ nóng giận; “trạng Lồi” nhằm diễn tả tính chất khoác lác. Quảng Nam lại có phương ngôn “nhớp như Lồi” dùng để nói lên tình trạng dơ bẩn, mất vệ sinh. Lại thêm hàng loạt di tích, di vật gắn liền với từ Lồi như chùa và tượng Phật Lồi, miếu và tượng Bà Lồi phân bố trên địa bàn khá rộng, trải dài khắp nhiều tỉnh thành duyên hải miền Trung, từ Quảng Bình trở vào. Ấy là cương vực vương quốc Chăm từng tồn tại trong quá khứ với một nền văn hoá nghệ thuật phát triển đầy bản sắc, đến năm Quý Dậu 1639 thì sáp nhập hoàn toàn vào lãnh thổ Đàng Trong dưới thời Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu, rồi hoà nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    Riêng Bà Lồi có khi được tôn xưng là Ngọc Phi hoặc Lồi Phi phu nhân, hiện vẫn được người Việt thờ cúng đó đây, như đôi miếu trong động Huyền Không ở thắng cảnh Non Nước (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng). Danh xưng Bà Lồi còn được dùng để gọi Thánh Mẫu Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi, tức nữ thần Po Nagar hoặc Muk Juk, một “hoá thân" của Bà Chúa Ngọc hay Bà Chúa Xứ. Ở Huế, nữ thần này không chỉ được thờ phụng rất trang trọng nơi điện Hòn Chén, mà còn “toạ vị” trong nhiều am miễu lớn bé. Không xa phế tích Thành Lồi, giữa vạt đất rợp bóng cổ thụ tại đầu dốc Nam Giao, có toà miếu cổ với lối kiến trúc gỗ ngói truyền thống khá độc đáo, trong thờ bài vị: “Phụng thỉnh Bà Chúa Ngọc Dương Di Lân Tiên Nương toạ vị”. Đặc biệt, ngay khu vực Thành Lồi hiện còn ngôi miếu nhỏ thuộc ấp Sơn Điền (nay thuộc thôn Thượng 4, xã Thuỷ Xuân), trên vách hương án có đôi chữ Hán “Tiên Nương” kiểu đại tự khải thư, song nhiều người vẫn gọi là miếu Bà Lồi. Trong sách Tục thờ thần ở Huế (NXB Thuận Hoá, Huế, 1998), Huỳnh Đình Kết đã xếp “miếu Tiên Nương cạnh Thành Lồi thuộc ấp Sơn Điền” vào hệ thống “miếu thờ các thần thuộc văn hoá Chămpa”.

    Liệu miếu Tiên Nương hoặc miếu Bà Lồi có dính dáng gì với nhân vật mụ Hời chăng? Chứ lăng mộ mụ Hời, theo lời dân chúng truyền khẩu thì mới xây ngoài 40 năm, nay đà mất dấu. Các bãi tha ma quanh “độn” Thành Lồi có mấy mộ vô chủ, mang đặc điểm là xây vôi vữa bằng phẳng sát mặt đất, khác hẳn lăng mộ bình thường vun nấm. Dân địa phương gọi mấy mộ cổ kia là “mả Hời”. Âu cần điều nghiên kỹ mới rút kết luận chắc chắn.

    Thậm chí, miếu Hời thờ các đời quốc vương Chăm từ lâu cũng chẳng còn tăm dạng. Trong Từ điển lịch sử Thừa Thiên - Huế (NXB Thuận Hoá, Huế, 2000), Phan Thanh Hải viết về Chiêm Thành quốc vương miếu: “Địa điểm miếu toạ lạc đến nay vẫn chưa xác định được, nhưng có lẽ nó nằm trong khu vực Thành Lồi”. Dựa theo hồi ức Thân Trọng Tuấn (tlđd), Từ điển tiếng Huế của Bùi Minh Đức chỉ ra rằng miếu ấy vốn được vua Minh Mạng cho lập năm 1833 “tại Nguyệt Biều, chênh chếch Hổ Quyền” với cấu trúc được mô tả thế này: “Miếu gồm một toà nhà ba gian, vách vôi, lợp ngói, cửa cột gỗ mít. Xung quanh xây tường gạch, trổ một cửa trông ra hồ Con Voi Ré. Năm Thành Thái thứ XV (1903), vua cho trùng tu cùng lúc xây xây mộ con voi một ngà kế cận, gần đồn (độn) Thành Lồi, sau đồi Long Thọ”.

    Trong tập 4 Nghiên cứu Huế ấn hành năm 2002, Nguyễn Phước Bảo Đàn và Tôn Nữ Khánh Trang trình bày các thông số đo đạc qua đợt điền dã năm 2001 tại khu vực Thành Lồi rồi nêu ý kiến: “Cách luỹ thành nam 50m về hướng bắc là miếu quốc vương Chiêm Thành - miếu Bà Chăm theo cách gọi dân gian - nằm trong khu mộ táng, nhưng ngày nay đã được dời đi nơi khác, thay vào đó là Đài Phật Địa Tạng cao gần 1,8m, xung quanh Phật Đài và rải rác trong khu mộ táng là những tảng đá lớn có dấu vết gia công, dài 50cm, rộng 40cm, cao 20cm. Có lẽ trước đây là đá kiến trúc dùng trong miếu quốc vương Chiêm Thành”.

    Cách định vị miếu Hời ngày trước như thế mang tính ức đoán, chẳng rõ căn cứ vào đâu. Và miếu Hời “ngày nay đã được dời đi nơi khác” thì đó là địa điểm nào? Đừng quên sự kiện nhà cầm quyền Pháp từng triệt hạ miếu Hời để phóng trục lộ từ bến Chung lên Vạn Niên đã khiến đồng bào dân tộc thiểu số phản đối nên chính phủ bảo hộ phải xây đền miếu mới trong vùng. Bản đồ của Sở Địa lý bấy giờ (6) (do L.Cadière in trong BAVH 1925) ghi trục lộ ấy là “route vers Tu Duc” (đường đến lăng Tự Đức), dân gian một thuở vẫn gọi “đường Thành Lồi”, hiện tại là đường Huyền Trân Công Chúa. Vậy có thể suy ra: miếu Hời nguyên thuỷ toạ lạc trên phần đất Thành Lồi mà bây giờ đường Huyền Trân Công Chúa chạy qua. Còn miếu Hời được xây thay thế về sau nằm ở đâu? Tổng hợp các nguồn tư liệu đã thu thập được, tam đặt nghi vấn: phải chăng miếu tái lập lân cận đấu trường Hổ Quyền và điện Voi Ré?

    Mặc dù miếu Hời thờ quốc vương Chiêm Thành mang niên đại muộn, song đấy là hạng mục có ý nghĩa đối với phế tích Thành Lồi. Tiếc thay, ngay cả miếu nọ chỉ mới tái lập xấp xỉ nửa thế kỷ mà đã bị xoá nhoà bởi muôn dâu bể!

________________________________

(6)
Carte du quartier Arènes

Phanxipăng trước Đài Phật Địa Tạng trong nghĩa trang Phật giáo Dương Biều.
Photo: Ngô Đình Hải 

Trên Thành Lồi . Photo: Phanxipăng






Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

TỰ TÌNH



TỰ TÌNH

Sáng trưa chiều tối luân phiên
Trập trùng biển cả trược phiền chuyển lưu
Cuộc chơi cùng tận hoang vu
Mai thì vô biệt, ta chừ biệt ly
Trông mình, mấy độ suy vi
Một khi ngày tắt vọng hy Người về
Người về ngự đỉnh vô vi
Mê lầm cát bụi tưởng chi câu thề
Đời vẫn thế, chốn đi về
Ta, người ngồi lại ê hề khổ vui
Cũng may còn cả đất trời
Một bàn chân với nụ cười an nhiên
Mai rồi sương trắng một miền.
Sài Gòn 9.6.2011

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2012

VIỆT NAM TỬU ĐẠO

VIỆT NAM TỬU ĐẠO

"Một rượu, một trà, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó hại ta"
(TÚ XƯƠNG)

RƯỢU, TRÀ và ĐÀN BÀ là ba lĩnh vực rất lớn của nhân loại, nói hoài chẳng đủ. Ở đây, chúng ta bàn cũng chẳng đủ dù cho thêm vài kiếp sống. Lần lượt chúng ta sẽ bàn sâu từng lĩnh vực một, riêng chuyện ĐÀN BÀ thì xin lỗi, chào thua. Đơn giản vì tôi là ĐÀN ÔNG, chẳng biết gì, để chuyện ấy dành cho các bà, các cô chính hiệu tự nguyện tỏ bày.

Tôi biết uống rượu từ đêm xa nhà lần đầu tiên tại đèo Đuôi Tôm, Thị trấn La Hai, Quy Nhơn, ngồi uống rượu trong rừng và say ngủ vùi trong rừng ướt át để quên đi đói lạnh và sầu khổ tủi nhục. Cái thời đấy nó thảm như vậy.

RƯỢU có mặt rất lâu từ thời cổ đại cùng với sự hình thành sơ khai của xã hội loài người. RƯỢU được phát minh chỉ sau LỬA. Cũng là một thứ lửa như nhau: một thứ thì đốt thân, một thứ thì đốt tâm. Đây là một phát hiện tai hại của nền Văn minh cổ đại! (hay ngược lại đối với kẻ nghiện ngập, vì cho rằng RƯỢU là nhu cầu thiết yếu hằng ngày). RƯỢU là đề tài có nhiều xu hướng đối lập nhau. Chúng ta phải công nhận là RƯỢU có mặt khắp nơi, trãi dài trên từng trang sử lẫm liệt của nhân loại. Ở Trung Quốc hình thành cả Đạo Uống Rượu mà Lưu Linh là giáo chủ, có cả Tửu Kinh để ngâm nga tụng đọc hằng ngày. Trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, hình tượng Tế Điên Hòa thượng cũng là nhân vật độc đáo, chuyên uống rượu, ăn thịt, trà trộn vào thành phần trộm cướp để cứu độ.

Trong văn học sử, nước nào cũng có những trước tác về RƯỢU, đủ biết RƯỢU là loại hình văn hóa đặc thù rất hấp dẫn nhiều thành phần xã hội, từ vua chúa đến quan dân mạt hạng. Chúng ta phải tiếp nhận nó như một sinh hoạt thuần túy thôi.

Đối với người Việt, RƯỢU cũng đi sâu vào các mặt sinh hoạt, tín ngưỡng, có cả các bài kệ ngâm dâng tửu, không có ngoại lệ. Văn học về RƯỢU cũng hình thành từ cổ chí kim. Nhất là trong lĩnh vực thơ ca có những bài rất sảng khoái, thoát tục. bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác là một ví dụ điển hình. Đọc bài này rợn cả tóc gáy.

HỒ TRƯỜNG

thơ Nguyễn Bá Trác

Đại trượng phu
Không hề xé gan, bẻ cật
Phủ cương thường
Hà tất tiêu dao
Bốn bể luân lạc tha phương
Trời Nam, nghìn dặm thẳm
Non nước, một màu sương
Chí chưa thành, danh chưa đạt
Trai trẻ bao lăm, mà đầu bạc
Trăm năm thân thế, bóng tà dương
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi
Trời đất mang mang
Ai người tri kỷ…
Lại đây cùng ta
Chung cạn một hồ trường!
Hồ trường, hồ trường
Ta biết rót về đâu…
Rót về Đông phương
Nước biển Đông chảy xiết
sinh cuồng loạn
Rót về Tây phương
Mưa Tây sơn từng trận
chứa chan!
Rót về Bắc phương
Ngọn Bắc phong vi vút
đá chảy cát vương!
Rót về Nam phương
Trời Nam mù mịt…
Có người quá chén
như điên, như cuồng…
Nào ai tỉnh…
Nào ai say…
Chí ta, ta biết
Lòng ta, ta hay
Nam nhi sự nghiệp ư…
Hồ thỉ
Hà tất
cùng sầu với cỏ cây.




Tôi từng đi nhiều nơi, giao tiếp nhiều thành phần, từng uống rượu trên núi tuyết với các nhà sư, vào nhà thờ thưởng thức rượu nho (rượu lễ) với các Cha, xuống biển uống rượu với dân chài, uống nhiều với các văn nghệ sĩ từ Bắc chí Nam, đủ các thành phần, uống khắp mọi nơi với đủ các loại rượu, ..

Sao uống nhiều thế! Chẳng biết.

Một lần tôi gặp một Đại gia mê rượu, có cả hầm rượu hẳn hoi, sưu tập và chưng bày hàng trăm loại rượu Tây có Ta có. Tôi cũng bị ấn tượng với gả mê rượu này. Một lần về uống rượu ờ Hà Tây, trong một vườn cây cảnh rộng lớn với nhiều mái chòi trông rất mỹ cảm. Vườn cây cảnh bạc tỷ, ngồi uống rượu với tri kỷ ngắm cây cỏ, đúng là cảnh tiên thoát tục.

Tôi suy nghĩ như thế này: RƯƠU là văn hóa mà cũng là tệ nạn của xã hội. Xã hội hiện đại đang tìm cách bài trừ nó mà chưa được. Chi bằng mình tìm cách hướng con người tới một phong cách uống rượu thú vị, gọi là có văn hóa khi uống rượu. Bạn nên nhớ là RƯỢU có mặt khắp hang cùng ngỏ hẻm, tác động rất lớn đến con người. Chúng ta không thể phủ nhận. Vậy thì, xin mời các bạn thưởng thức cùng tôi chung rượu tình người. Chỉ thế thôi! Xin mượn câu thơ của Nguyễn Đức Sơn để mở đầu cho cuộc rượu, tạm gọi là " TỬU ĐẠO THI NGÂM", gồm 100 bài, giới thiệu nơi chốn, thành phần và đủ các loại rượu trên đất nước Việt Nam ta.

Đêm Phù Cát dù ngoài trời rất lạnh
Nhưng trong nhà của thiếu úy Hồ Bang
Có tình bạn nồng nàn như rượu cần chôn nhiều năm dưới đất
Có câu chuyện tình thi vị mang mang

Nhiều lúc nghĩ trời sinh một mình ta là đủ
Bởi đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để quàng vai ấm áp cuộc rong chơi! ...

(Thơ Nguyễn Đức Sơn)

越 南 酒 道
獨 行 無 孤 詩 題

飲 酒 開 心 兮 道 人
提 生 子 笑 風 塵
鴈 過 長 空 無 反 影
閒 遊 酒 道 豁 然 安


VIỆT NAM TỬU ĐẠO
Độc Hành Vô Cô thi đề

Ẩm tửu khai tâm hề đạo nhân
Túy đề sinh tử tiếu phong trần
Nhạn quá trường không vô phản ảnh
Nhàn du tửu đạo hoát nhiên an

Dịch nghĩa:

Uống rượu mở cửa tâm hồn ra kìa, bậc đạo nhân
Say rồi viết lên kiếp sống của chính mình: mỉm cười với cuộc đời chìm nổi
Cánh chim nhạn bay qua bầu trời không lưu bóng dáng
Vui chơi nhàn nhã uống chén rượu đạo lý bổng tâm hồn rộng mở thênh thang

Dịch:

Chuốc chén tâm không kìa đạo nhân
Say vùi sinh tử phủi phong trần
Lưng trời cánh nhạn đâu lưu bóng
Men đạo nhàn tâm khổ lụy tan







CHÚ THÍCH:

1. Tế Điên Hòa Thượng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tế Ðiên Hòa Thượng hay Tế Điên Hoạt Phật (chữ Hán: 濟癫和尚、濟公活佛) ( tên thật Lý Đạo Tế) là một nhân vật có thật và cũng là nhân vật trong tác phẩm văn học dân gian Trung Quốc, kể lại sự tích một vị Thiền sư thuộc phái Dương Kỳ, tông Lâm Tế, sống vào đời Tống (khoảng 1150 – 1209) người Lâm Hải (Chiết Giang), họ Lý, tên Tâm Viễn, tự Hồ Ẩn, hiệu Phương Viên Tẩu sống tại vùng Chiết Giang, Trung Quốc. Ông là một tăng sĩ nhưng ham uống rượu, ăn thịt chó nên người đời gọi ông là Tế Điên. Sau này dân gian gọi ông là Tế Công.



Tượng Tế Điên và các nhân dáng phổ biến

Tiểu sử

Cuộc sống của vị Thiền sư này có nhiều điều kỳ bí khác đời và cũng khác với đời sống tu hành của Tăng chúng đương thời. Tính tình ông cuồng phóng, thích rượu, thích thịt chó người đời gọi ông là “Tế Ðiên”, nhưng ông lại là người rất “tỉnh”, từ bi và ưa giúp đời[1]. Tế điên sống ở núi Thiên Thai, sau đó đi đến Hàng Châu (cách Thiên Thai 300km). Tại Hàng Châu có chùa Linh Ẩn là nơi hòa thượng Tế Điên xuất gia năm 18 tuổi. Ông lần lượt tham học với các vị: Pháp Không Nhất Bản ở chùa Quán Âm. Sau sư vào núi Hổ Khâu làm môn hạ ngài Hạt Ðường Huệ Viễn và nối dòng pháp này. Sư lại đến ở chùa Tịnh Từ, chùa này bị thiêu hủy vì hỏa tai, Sư đi hành hóa ở Lăng Nghiêm trùng tu lại. Cư dân ở vùng Tần Hồ ăn ốc thường chặt đuôi ốc để ăn. Sư xin những con ốc này thả lại trong nước, ốc phần lớn sống lại mà không có đuôi.
Năm 1209, sư thị tịch, thọ 60 tuổi, nhục thân của sư nhập vào tháp tại Hổ Bào.
Nhân dáng
Tế điên được mô tả mặc quần áo rách rưới, gầy guộc xương và tay cầm quạt mo. Các thế tượng Tế Điên đều được miêu tả nhân dáng thế này, nhưng thực tế - theo truyền thuyết tay ông còn cầm đùi chó, nhưng trong chùa không tiện thờ những hình dáng thế này. Có khi Tế Điên lại được tạc theo thế tay cầm bình rượu nhưng bị chó cắn gấu quần. Lý giải cho việc tại sao mình ăn thịt chó, theo truyện Tế Điên Hòa Thượng thì ông nói:
Cổ thi Phật Tổ để một phong,
Dạy khuyên tu miệng lẫn tu lòng,
Người nay tu miệng, lòng không sửa.
Bần tăng lòng sửa, miệng thì không.

[2]
Tế Điên và tư tưởng Tâm Thức

Tế Điên theo truyền thuyết giống như đến cõi trần vui chơi, để đùa giỡn và cũng để giáo hóa cho con người thấy tất cả đều chỉ là trò ảo giác của sắc thân, của chữ nghĩa, của tư tưởng, chúng đều là chuyện đáng để đùa giỡn.

Từ chân Tháp Lục Hòa, Tế Công viết thư :
Ức tích diện tiền dương nhất tiễn
Chí Kim do giác cốt mao hàn
Chỉ nhân diện mục vô nhân thức
Hạ vãng xưa từng đón mũi tên
Lông Xương nay vẫn chưa yên
Chỉ vì mặt thật không ai hiểu
Về núi Thiên Thai lại một phen
"Đó là các vị giết hại sinh vật nhưng “mặt thật” của vô sinh là vô tử - quan trọng là tư tưởng đều là vọng thức , chẳng can gì đến tâm, con người thường lầm thức là tâm, thậm chí gọi chung là tâm thức. Ý là nhớ , đối cảnh khởi vọng đều là vọng thức, chẳng can gì đến tâm. Tâm chẳng phải có không, có không chẳng nhiễm. Tâm chẳng cấu tịnh, cấu tịnh chẳng nhơ, chẳng nhơ. Cho đến mê ngộ phàm thánh, đi đứng ngồi nằm đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy. Tam xưa chẳng sinh, nay chẳng diệt."

[3]

Trong lĩnh vực điện ảnh

Tế Công là nhân vật được khai thác của đề tài phim võ hiệp cũng như phim hài. Nhiều bộ phim của Hồng Kông và Đài Loan và ngay cả Singapore có đề cập đến ông. Tuy nhiên hầu hết được sửa đổi theo nguyên tác truyện dân gian và diễn viên chưa lột tả hết được tính cách phức tạp của nhân vật.

2. LƯU LINH:Một trong bảy vị thuộc nhóm TRÚC LÂM THẤT HIỀN

Trúc lâm Thất Hiền là bảy ông Hiền ở rừng trúc.
Bảy ông Hiền nầy có cùng một chí hướng, tu theo đạo Tiên, thường tụ nhau nơi rừng trúc đàm đạo quanh một cái bàn, vào thời nhà Tấn bên Tàu, tức là vào thời Tư Mã Chiêu, con của Tư Mã Ý, trong truyện Tam Quốc.

Trúc lâm Thất Hiền có tên kể ra sau đây:


1. Nguyễn Tịch (210-263)
2. Kê Khang (223-263)
3. Lưu Linh (220-300)
4. Sơn Đào (205-283)
5. Hướng Tú (221-300)
6. Vương Nhung (234-305).
7. Nguyễn Hàm

Đây là nhóm Thanh đàm của Đạo gia, bàn về những vấn đề thanh cao, những tư tưởng siêu việt.
Đây cũng là nhóm đại diện cho phong trào sống nghệ thuật phong lưu theo tự nhiên, để cho tình cảm lãng mạn nẩy nở tự do, không chịu gò ép trong lễ nghi hay giới luật.

Trúc lâm chứa đặng bảy ông Hiền,
Vì bỏ tục trần mến cảnh Tiên.
Hồng cấu đã chui thân phải vấy,
Hơn thua cười kẻ biết nơi tiền.

Sau đây là tiểu sử sơ lược của mỗi ông Hiền trong Trúc lâm Thất Hiền:

1. NGUYỄN TỊCH (210 - 263):

Nguyễn Tịch, tên chữ là Tự Tông, người đất Trấn Lưu, con của Nguyễn Vũ, một trong Kiến An Thất tử.
Nguyễn Tịch có dung mạo khác thường, chí khí mở rộng, tự nhiên, một mình độc lập, phóng túng tự do, mà mừng giận không hiện ra nét mặt, thường đóng cửa ở trong nhà đọc sách, có khi hàng tháng không bước chân ra ngoài, có khi trèo lên núi ngao du sơn thủy hàng mấy ngày quên trở về.
Nguyễn Tịch đọc rất nhiều sách mà thích nhứt là sách Đạo Đức Kinh của Lão Tử và Nam Hoa Kinh của Trang Tử.
Ông thích uống rượu, biết thổi sáo, giỏi đàn cầm, đương khi đắc ý chợt quên hình hài mà siêu thần nhập hóa. Người đời cho ông có si tính hay máu điên.
Vì có cái cuồng danh đó mà Tư Mã Chiêu (con của Tư Mã Ý) đem lòng ngưỡng mộ, muốn kết thân với Nguyễn Tịch, nhưng ông không chịu nên cố ý say sưa luôn 60 ngày đêm để khỏi gặp Tư Mã Chiêu.
Bề ngoài của Nguyễn Tịch trông rất phóng đãng, nhưng bên trong rất thuần chính. Hành động phóng đãng là giả vờ để tránh tai họa, bảo trọng lấy thân mà thôi.
Ông nhìn thấy triều đình càng lúc càng suy yếu, quan lại chuyên quyền, dua nịnh, ông rất đau lòng, nên đã kết tinh vào tác phẩm "Vịnh Hoài" của ông, một tập thơ bất hủ gồm 82 bài thi, một kiệt tác của thời bấy giờ. Tấm lòng của ông bao la, tầm mắt rộng lớn mà không gặp được người đồng khí tương cầu nên đã phát tiết bi thương trong thơ văn đến độ mãnh liệt.
Nguyễn Tịch có viết sách "Đạt Trang Luận", trong đó, ông xác định Triết lý tự nhiên, luôn luôn ý thức cái lý đồng nhứt trong sai thù.
Nguyễn Tịch có cặp mắt rất đặc biệt, khi vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt xanh, còn không vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt trắng. Khi mẹ Nguyễn Tịch mất, ông Kê Hỷ mang đồ lễ đến viếng, Nguyễn Tịch tiếp nhìn với đôi mắt trắng dã. Hỷ ra về mà bụng không bằng lòng. Em của Kê Hỷ là Kê Khang nghe biết chuyện đó, mới mang rượu và cắp đàn đến, thì Tịch rất vui, vừa ý lắm, tiếp Kê Khang với đôi mắt xanh.
Năm thứ tư đời Cảnh nguyên, tức là năm 263, Nguyễn Tịch mất, hưởng được 54 tuổi.
Kê Khang thường ca tụng Nguyễn Tịch rằng: Nguyễn Tự Tông, miệng không bàn lỗi của người. Ta mỗi khi bắt chước điều ấy mà không kịp được, cùng cực bẩm tính hơn người, với sự vật không thương tổn, chỉ có cái uống rượu quá mức thôi.

2. KÊ KHANG (223 - 263):

Kê Khang, tự là Thúc Dạ, ở Tiêu Quận, sớm mồ côi, có kỳ tài, thân hình cao lớn, có phong nghi, thiên chất tự nhiên, tánh tình điềm đạm, ít ham muốn, khoan dung giản dị.
Ông tự học mà giỏi, sở trường về cái học Lão Trang.
Ông trước tác được hai bộ sách: Thích Tứ Luận và Thanh Vô Ai Lạc Luận. Trong hai cuốn sách nầy, ông lấy chủ nghĩa tự nhiên để bài bác học thuyết của Nho gia.
Ông quan niệm nhân cách của người quân tử có được không phải lấy lễ giáo bên ngoài mà uốn nắn con người, đẽo gọt thiên nhiên. Ông cũng chống lại tất cả các suy luận trí thức về phải trái, đúng sai. Ông chỉ cốt làm sao cho được Tâm hư để noi theo Tánh mà sống, vì tự nhiên chính là đạo lý.
Sách Thế Thuyết có kể chuyện rằng: "Chung Hội (225-264) làm quan, làm tướng, có viết sách, lấy làm tiếc vì chưa có dịp gặp Kê Khang, cho nên ngày kia, Chung Hội cùng với vài người thân tín đến viếng Kê Khang.
Sở thích của Kê Khang là rèn đồ kim khí. Chung Hội đến thì thấy Kê Khang đang rèn sắt dưới gốc cây lớn. Hướng Tú thì giúp Kê Khang thổi ống bể, còn Kê Khang thì vẫn tiếp tục đập sắt như không có khách đến. Chung Hội bị bẽ mặt, đứng nhìn một lát rồi bỏ đi.
Kê Khang hỏi: - Đã nghe gì mà tới? Đã thấy gì mà đi?
Chung Hội đáp:
- Tới vì nghe cái đã nghe, đi vì thấy cái đã thấy."
Người đời Tấn rất thích cái vẻ đẹp thể chất và tinh thần của Kê Khang. Người ta sánh ông với núi ngọc hoặc cây tùng.
Có lẽ vì vậy mà Chung Hội mới nói đã nghe và đã thấy.
Trước kia, có một hôm, Kê Khang đi chơi ở đất Lạc Tây, trọ ở Hoa Dương Đình, đêm ngồi khảy đàn, chợt có một người khách đến tự xưng mình là người thời cổ, rồi cùng Kê Khang bàn luận âm luật, lời lẽ rành rọt thấu đáo lắm. Nhân đó, ông khách truyền cho Kê Khang khúc nhạc Quảng lăng tán, dặn Kê Khang không truyền cho ai khác.
Về sau, khi Kê Khang bị Tư Mã Chiêu đem ra hành hình ở phía chợ đông, Kê Khang quay nhìn bóng mặt trời rồi cầm đàn gảy nói rằng:
- Trước kia khúc Quảng lăng tán nầy có người tên Viên Hiếu Nê thường theo ta để học nhưng ta không truyền được, nay khúc Quảng lăng tán nầy từ nay mất đi.
Kê Khang bị Tư Mã Chiêu ra lịnh giết chết năm ông được 40 tuổi.
Các nhà phê bình đều cho rằng: thơ của Nguyễn Tịch và của Kê Khang ý tứ rất khác nhau. Thơ của Nguyễn Tịch thì ý chỉ thâm thúy, của Kê Khang thì khí vận tuấn thanh. Tài hoa của Nguyễn Tịch thì như mùa Xuân thơm ngát, còn tâm tình của Kê Khang như mùa Thu trong trẻo. Nhưng có điều, là Nguyễn Tịch dùng cái cuồng để làm kế bảo toàn tấm thân, còn Kê Khang lại bị cái cuồng mà phải sát thân.

3. LƯU LINH (220 - 300):



Lưu Linh, tự là Bá Luân, người đất Bái, thân hình xấu xí, phóng tình tứ chí, thường lấy sự coi nhỏ vũ trụ xem bằng muôn vật làm tâm, lạnh nhạt ít lời, không quen giao du, cùng với Nguyễn Tịch và Kê Khang tương ngộ, tinh thần hớn hở, dắt tay vào rừng. Lúc đầu không chút ý kiến gì về tài sản có không nói: "Ta chết chôn cho ta." Đấy khinh bỏ thân thể đến thế.
Lưu Linh hay uống rượu, nổi tiếng về rượu hơn hết trong Trước lâm Thất Hiền, uống rượu bao nhiêu cũng không say.
Một hôm, ông bảo vợ đi lấy rượu. Vợ ông đổ rượu đi và đập bể vò rượu, khóc mà can rằng:" Ông uống rượu nhiều quá, không phải là cái đạo nhiếp sinh, ông phải bỏ bớt rượu đi." (Nhiếp sinh là thu nhiếp tinh thần để nuôi sức khỏe).
Lưu Linh nói: "Phải, ta không thể tự cấm được, phải cầu quỉ thần lên để thệ nguyện mới được. Vậy phải đủ rượu thịt làm lễ chứ!"
Vợ liền nghe lời, lo sắm sửa đủ các thứ.
Xong, Lưu Linh bèn quì mà khấn rằng:
"Thiên sanh Lưu Linh,(Trời sanh Lưu Linh),Dĩ tửu vi danh,(Lấy rượu làm danh),Nhất ẩm nhất hộc,(Mới uống một vò),Ngũ đẩu giải tỉnh,(Năm đấu giải tỉnh),Phụ nhân chi ngôn,(Lời nói đàn bà),Thận bất khả thính.(Cẩn thận đừng nghe.)
Khấn xong thì đem rượu thịt ra, ăn uống li bì, say say tỉnh tỉnh.
Tuy Lưu Linh mê man phóng túng, nhưng khi gặp việc thì ứng biến chẳng sai, ít khi thác ý vào văn thơ, duy có làm bài phú "Tửu đức tụng" nổi tiếng, ca tụng người uống rượu.

Bài phú :TỬU ĐỨC TỤNG, diễn nôm ra sau đây:

1.

Chàng là một người đầy cao quí,
Đối với chàng, Trời Đất chỉ là một buổi sáng,
Và vĩnh hằng chỉ là một thoáng chốc.
Mặt trăng và mặt trời chỉ là những cánh cửa sổ,
Tám sa mạc là sân nhà chàng.
Chàng đi không để lại dấu vết,
Không ở tại một ngôi nhà nào.
Lấy trời làm nhà, lấy đất làm chiếu,
Chàng theo đuổi sự phóng túng của mình.
Khi dừng lại chỉ là để nâng lên chén rượu hay ôm bầu rượu,
Khi đi chỉ là để mang theo một bình rượu hay lấy đi chai rượu.
Rượu là công việc duy nhứt của chàng,
Chàng chẳng biết gì hơn nữa.

2.

Một ông chúa trẻ thuộc nhà cao quí, và một quan về hưu,
Nghe nói đến những thói quen của ta,
Đã bài bác cách sống của ta.
Họ vung tay áo, nắm tay lại,
Mắt dữ dằn đảo qua đảo lại và răng thì nghiến chặt lại,
Họ dạy ta những phép tắc xã giao,
Phải thế nầy và không được thế kia, nghe như tiếng bầy ong,
Nhưng vào lúc đó, ông thầy kia,
Nắm lấy một cái vò, cầm lên một cái chén,
Đưa chén lên miệng nốc hết rượu, rồi vuốt râu nằm thẳng cẳng,
Lấy men làm gối, lấy cặn rượu làm gối dài.

3.

Chẳng suy nghĩ gì, chẳng lo âu gì,
Hạnh phúc của chàng thật là toàn vẹn!
Thoắt thấy chàng say mèm, thoắt thấy chàng tỉnh rượu.
Lắng tai nghe, chàng không nghe thấy sấm rền,
Chú mắt nhìn, chàng chẳng thấy hình núi Thái sơn,
Không thấy lạnh giá và nóng bức cắn xé da thịt mình,
Cũng không thấy thành công và ham muốn gây những đam mê.
Chàng cúi nhìn đám người đông như kiến cỏ,
Họ giống như bèo tấm trôi trên sông Giang sông Hàn,
Hai vị cao sang kia đứng cạnh,
Với chàng, chỉ giống con ong hay con sâu.

(Lê Diên dịch)

Đây là những tư tưởng tự nhiên rút ra ở hệ thống xuất thế của Lão Trang, đem vào đời sống nghệ thuật đến mức cực đoan. Lưu Linh mượn rượu để quên đời, quên cả hình hài để sống với một tâm trạng siêu thần nhập hóa giả tạo. Phải chăng hoàn cảnh lịch sử xã hội thời đó đã gây ra không khí quá bi quan như thế?
Lưu Linh thường hay quá chén, phóng túng, cởi bỏ quần áo, trần truồng trong nhà. Người đời thấy vậy thì chê cười.
Lưu Linh nói: "Ta lấy Trời Đất làm nóc nhà, buồng nhà làm quần áo, các ông sao lại chui vào quần áo của ta?"
Lưu Linh dẫu sống phóng túng, buông thả, nhưng vẫn ý thức cái gì là của Trời Đất, cái gì là của thiên hạ.

4. SƠN ĐÀO (205 - 283):

Sơn Đào, tự là Cự Nguyên, người ở huyện Hoài, đất Hà Nội, đời nhà Tấn (nay thuộc tỉnh Hồ Nam). Từ nhỏ, tánh tình ông rất chất phác, nhưng học thức hơn người, được nhiều học giả danh vọng trong vùng kính trọng, thế mà đến 40 tuổi, Sơn Đào vẫn là một viên quan nhỏ giữ chức Chủ Bạ trong quận.
Sơn Đào chơi thân với Nguyễn Tịch và Kê Khang.
Vợ Sơn Đào là Hàn Thị thấy ba người chơi thân với nhau thì hỏi dò chồng. Sơn Đào đáp:
- Đó là hai người riêng ta có thể chơi thân.
Hàn Thị muốn biết rõ hai người bạn đặc biệt nầy của chồng, nên sửa soạn một tiệc rượu để chồng đãi đằng hai bạn, còn Hàn Thị thì núp trong màn nhìn ra quan sát, buổi tiệc kéo dài suốt đêm, Hàn Thị cũng thức suốt đêm để theo dõi.
Sáng hôm sau, Sơn Đào vào phòng hỏi vợ:
- Nàng nghĩ sao về hai người bạn đó?
Hàn Thị đáp: - Về tài hoa thì chàng không bằng họ, nhưng về trí thức thì chàng đáng là bạn của họ.
Sơn Đào nói:
- Chính họ cũng cho cái biết của ta là cao hơn.
Về sau, Sơn Đào cũng được điều về kinh đô, giữ chức: Thượng Thư Lại Bộ Lang. Lúc ấy Ngụy đế là Tào Phương vừa nhỏ tuổi vừa bất tài, triều chính lọt vào tay Thái Úy Tư Mã Ý và Đại tướng Tào Sảng. Hai người nầy kết bè kết đảng định tiêu diệt phía đối phương mà độc chiếm quyền hành.
Sơn Đào nhìn thế cuộc biết chắc thế nào Tào Sảng cũng phải thua Tư Mã Ý, vì Tào Sảng lỗ mảng ngang ngược, kém mưu trí hơn Tư Mã Ý nhiều.
Sơn Đào không muốn dính vào vòng đấu tranh của hai người ấy, nên thường ẩn cư, ít giao thiệp với các triều thần.
Mỗi khi cao hứng, Sơn Đào thường mời các danh sĩ như: Kê Khang, Nguyễn Tịch, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Hướng Tú, Vương Nhung vào trong rừng trúc rong chơi, uống rượu và bàn lẽ huyền vi của Trời Đất, gác ngoài tai mọi việc ở đời.
Trong Trúc lâm Thất Hiền thì Kê Khang là người có tiếng tăm và tài hoa cao nhứt, dám khinh miệt cả bọn quyền quí, làm Sơn Đào rất bội phục.
Sau nầy, khi Sơn Đào làm ở Bộ Lại, có dâng thơ tiến cử Kê Khang. Kê Khang chán ghét bọn quan lại tham ô nên không hề có ý muốn ra làm quan, nay biết được Sơn Đào dâng thơ tiến cử mình, Kê Khang nổi giận liền viết một bức thơ "Tuyệt giao Sơn Đào", mỉa mai Sơn Đào còn ham danh lợi và tuyên bố tuyệt giao với Sơn Đào. Sơn Đào rất hiểu rõ tánh ý của Kê Khang nên không hề hờn giận.
Sau nầy, Kê Khang bị Chung Hội và Lữ Tấn vu oan, Tư Mã Chiêu tin Chung Hội nên giết chết Kê Khang. Con của Kê Khang là Kê Thiệu bơ vơ không nơi nương tựa, được Sơn Đào lo lắng chăm sóc.
Năm 265, con của Tư Mã Chiêu là Tư Mã Viêm chiếm lấy chánh quyền, phế bỏ triều Ngụy của họ Tào, lên làm vua, lập ra nhà Tấn, Sơn Đào lại dâng thư tiến cử Kê Thiệu: "Cha có tội không liên quan gì đến con, Kê Thiệu gồm đủ đức tài, xứng đáng được trọng dụng." Tư Mã Viêm chấp nhận, phong Kê Thiệu chức Bí Thư Thừa.
Sơn Đào giỏi nhận xét nhân tài, trong hơn 20 năm ông làm việc ở Bộ Lại, ông tiến cử lên triều đình nhiều hiền tài. Trong triều có quyền thần Giả Sung, thường kéo bè kết đảng để củng cố thế lực, khen ngợi tên tâm phúc Lục Lượng trước mặt Tư Mã Viêm, rằng Lục Lượng có tánh tình trung hậu, chí công vô tư, nên xin cho Lục Lượng được cùng với Sơn Đào làm chức Tuyển Quan. Tư Mã Viêm đồng ý.
Sơn Đào thì phản đối việc nầy, vì biết Lục Lượng chỉ là tên có tài nịnh hót chớ không có thực tài, không xứng đáng với chức Tuyển Quan. Ít lâu sau, quả nhiên tên Lục Lượng nhận hối lộ, bị phát hiện nên bị cách chức. Do đó, Tư Mã Viêm càng trọng tư cách của Sơn Đào.

5. HƯỚNG TÚ (221 - 300):

Hướng Tú, tự là Tử Kỳ, người ở đất Hoài, nay là Hồ Nam, thuở nhỏ đã quen biết Sơn Đào. Hướng Tú rất thông tuệ, hiểu biết rất sâu xa, theo cái học của Lão Trang. Ông cùng với Quách Tượng đã chú giải sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử, vì lâu nay trải quan nhiều thế hệ của Đạo gia, nhưng chưa có ai luận bàn về tôn chỉ và hệ thống hóa sách ấy cả.
Hướng Tú bàn và giải thích thêm những ý nghĩa sâu kín, phát minh thêm ý lạ, làm nổi dậy phong trào Huyền học.
Người đương thời đọc sách ấy thì siêu nhiên tâm ngộ, chẳng ai không mãn nguyện.

6. VƯƠNG NHUNG (234 - 305):

Vương Nhung có một đứa con vừa mới chết, bạn của Vương Nhung là Sơn Giản đến viếng. Vương Nhung không cầm được nước mắt. Sơn Giản nói:
- Chỉ là đứa bé con, cớ sao lại khóc?
- Thánh nhân thì quên tình, thứ dân thì không biết tới, chỉ như bọn ta mới có nhiều tình.
Sơn Giản tán đồng, rồi cũng khóc theo.
Lời nói của Vương Nhung cắt nghĩa rất rõ tại sao nhiều Huyền học gia lại rất lưu tâm đến thuyết Chủ tình.
Trong nhiều trường hợp, không phải vì sự được mất của bản thân mà họ tỏ ra vui buồn, mà chính trong cái cảnh tượng chung của cuộc sống hay của Trời Đất.

7. NGUYỄN HÀM:

Nguyễn Hàm là cháu của Nguyễn Tịch, gọi Nguyễn Tịch bằng chú. Hai người họ Nguyễn nầy đều thích uống rượu. Mỗi khi gặp nhau, họ không cần lấy chén mà uống, chỉ ngồi quanh vò rượu mà uống trong vò. Có khi mấy con heo khát nước chạy đến, thì họ cho heo cùng uống với họ.
Đấy là tình cảm cốt yếu của hạng người phong lưu, muốn sống với tinh thần nghệ sĩ, với ý thức bình đẳng, không phân biệt giữa họ và vật trong Trời Đất.
Tóm lại, Trúc lâm Thất Hiền là bảy ông Hiền nơi rừng trúc. Họ là những nhà văn nhà thơ, vừa đi dạo, vừa bàn luận trong một khu rừng trúc nhỏ, dừng lại để uống rượu, rồi lại đi dạo tiếp tục, rồi lại bàn luận, làm thơ, cho đến lúc say mèm.
Họ bàn luận chỉ trích Khổng giáo, đề cao Lão Trang, mỗi người có một cách, làm dẫy lên một trào lưu tư tưởng lãng mạn gọi là Phong lưu, ngụ ý sống tự do theo tự nhiên, mà tư tưởng triết học thì chủ ở Lão Trang. Sống Phong lưu là sống hòa nhịp với cảm xúc bồng bột hồn nhiên, không chờ trí thức kịp xen vào. Cảm xúc ấy là của một tánh tình đã cảm thông với tạo vật thiên nhiên chớ không phải cái tánh tình nhỏ hẹp hữu hạn tầm thường.

Cụ NGUYỄN DU cũng có cảm tác một bài về LƯU LINH

LƯU LINH MỘ
của Nguyễn Du

Nguyên văn chữ Hán

劉伶墓

劉伶之子不成才
荷插揚言死便埋
醉裡已能齊萬物
死時何必念遺骸
天年古墓長荊棘
萬里官道多風埃
何似清醒看世事
浮萍擾擾更堪哀

Phiên âm Hán Việt

Lưu Linh chi tử bất thành tài
Hạ sáp dương ngôn tử tiện mai[1]
Túy lí dĩ năng tề vạn vật[2]
Tử thời hà tất niệm di hài
Thiên niên cổ mộ trường kinh cức
Vạn lí quan đạo đa phong ai
Hà tự thanh tinh khan thế sự
Phù bình[3] nhiễu nhiễu cánh kham ai

Dịch nghĩa:

Gã họ Lưu không nên tài cán chi
Vác cuốc rêu rao "chết đâu chôn đó"
Trong cơn say đã có thể coi muôn vật ngang nhau
Đến lúc chết hà tất phải nghĩ tới hình hài
Mộ cổ nghìn năm gai góc mọc đầy
Đường quan muôn dặm nhiều gió bụi
Sao lại lấy trong sạch, tỉnh táo mà nhìn việc đời
Để như cánh bèo trôi giạt thật đáng thương thay