HOA CÚC TRONG THƠ NGÀI HUYỀN QUANG VÀ HÀN MẶC TỬ
Huyền Quang Thiền sư - 玄光禪師
菊花其一
|
Cúc hoa kỳ 1
|
Hoa cúc kỳ 1 (Người dịch: Nguyễn Tấn Hưng)
|
松聲蔣詡先生徑,
梅景西湖處士家。 義氣不同難苟合, 故圓隨處吐黃花。 |
Tùng thanh Tưởng Hủ tiên sinh kính,
Mai cảnh Tây Hồ xử sĩ gia. Nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp, Cố viên tuỳ xứ thổ hoàng hoa. |
Ngõ nhà Tưởng Hủ thông reo
Tây hồ mai thắm dập dìu hương đưa. Mỗi người một thú riêng ưa, Tình ta vẫn cúc vườn xưa nở vàng. |
- Dịch nghĩa
Tiếng thông reo đầu ngõ ông Tưởng Hủ
Cảnh hoa mai ở nhà xử sĩ Tây Hồ.
Không cùng nghĩa khí, khó lòng hoà hợp tạm bợ được.
Vườn cũ nơi nơi đã nở hoa vàng.
Tiếng thông reo đầu ngõ ông Tưởng Hủ
Cảnh hoa mai ở nhà xử sĩ Tây Hồ.
Không cùng nghĩa khí, khó lòng hoà hợp tạm bợ được.
Vườn cũ nơi nơi đã nở hoa vàng.
菊花其二
|
Cúc hoa kỳ 2
|
Hoa cúc kỳ 2 (Người dịch: Nguyễn Lang)
|
大江無夢浣枯腸,
百詠梅花讓好粧。 老去愁秋吟未穩, 詩瓢實為菊花忙。 |
Đại giang vô mộng hoán khô tràng,
Bách vịnh mai hoa nhượng hảo trang. Lão khứ sầu thu ngâm vị ổn, Thi biều thực vị cúc hoa mang. |
Ngàn sông không đủ thấm lòng già,
Bách vịnh mai hoa vẫn kém xa. Đầu bạc ngâm hoài vần chưa ổn, Thấy hoa cúc nở rộn lòng ta. |
Không mơ lấy nước sông lớn rửa tấc lòng khô héo,
Hoa mai từng được trăm bài thơ vịnh kia phải nhường vẻ đẹp
Già rồi lại buồn vì thu, chưa làm thơ được,
Nhưng túi thơ bầu rượu thật vì hoa cúc mà bận rộn.
菊花其三
|
Cúc hoa kỳ 3
|
Hoa cúc kỳ 3 (Người dịch: Nguyễn Trọng Thuật)
|
忘身忘世已都忘,
坐久蕭然一榻涼。 歲晚山中無歷日, 菊花開處即重陽。 |
Vong thân, vong thế, dĩ đô vong,
Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương. Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật, Cúc hoa khai xứ tức trùng dương. |
Sự đời quên cả chẳng lôi thôi
Chiếc chõng quanh năm bó gối ngồi Ngày tháng chẳng còn sờ đến lịch Thấy hoa cúc nở đoán thu rồi. |
- Dịch nghĩa
Quên mình, quên đời, đã quên tất cả,
Ngồi lâu trong hiu hắt, mát lạnh cả giường.
Cuối năm ở trong núi không có lịch,
Thấy cúc nở biết rằng đã tiết trùng dương.
Ngồi lâu trong hiu hắt, mát lạnh cả giường.
Cuối năm ở trong núi không có lịch,
Thấy cúc nở biết rằng đã tiết trùng dương.
菊花其四
|
Cúc hoa kỳ 4
|
Hoa cúc kỳ 4 (Người dịch: Nguyễn
Lang)
|
年年和露向秋開,
月淡風光愜寸懷。
堪笑不明花妙處,
滿頭隨到插歸來。
|
Niên niên hoà lộ hướng thu khai,
Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn
hoài.
Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ,
Mãn đầu tuỳ đáo sáp quy lai.
|
Năm năm nở đúng tiết thu qua
Gió dịu trăng thanh ý mặn mà
Cười kẻ không hay hoa huyền diệu
Khi về mái tóc giắt đầy hoa.
|
- Dịch nghĩa
Hàng năm hoa nở vào thu cùng với sương móc.
Trăng thanh trời quang đãng, thỏa thích tấc lòng
Ðáng cười ai không rõ sự huyền diệu của hoa,
Bất cứ tới đâu (thấy hoa) cắm đầy đầu mang về.
Trăng thanh trời quang đãng, thỏa thích tấc lòng
Ðáng cười ai không rõ sự huyền diệu của hoa,
Bất cứ tới đâu (thấy hoa) cắm đầy đầu mang về.
|
菊花其五
|
Cúc hoa kỳ 5
|
Hoa cúc kỳ 5 (Người dịch: Vũ Thế Ngọc)
|
花在中庭人在樓,
焚香獨坐似忘憂。 主人與物渾無競, 花向群方出一頭。 |
Hoa tại trung đình nhân tại lâu,
Phần hương độc toạ tự vong ưu. Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh, Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu. |
Hoa ở giữa sân người trên lầu
Đốt hương ngồi lặng dứt lo âu Chủ cùng muôn vật không chi khác Hoa bỗng nở tung một đoá hường. |
- Dịch nghĩa
Hoa ở dưới sân, người trên lầu,
Một mình thắp hương ngồi tự nhiên quên hết phiền muộn.
Người với hoa hồn nhiên không tranh cạnh,
Trong các loài hoa thì cúc trội hơn một bậc.
Hoa ở dưới sân, người trên lầu,
Một mình thắp hương ngồi tự nhiên quên hết phiền muộn.
Người với hoa hồn nhiên không tranh cạnh,
Trong các loài hoa thì cúc trội hơn một bậc.
菊花其六
|
Cúc hoa kỳ 6
|
Hoa cúc kỳ 6 (Người dịch: Ngô Văn Phú)
|
春來黃白各芳菲,
愛艷憐香亦似時。
遍界繁華全墜地,
後彫顏色屬東籬。
|
Xuân lai hoàng bạch các phương phi,
Ái diễm liên hương diệc tự thì. Biến giới phồn hoa toàn truỵ địa, Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly. |
Hoa trắng, hoa vàng, cúc đón xuân,
Thương hương đắm sắc dạ bàn hoàn Muôn hoa rực rỡ đều tàn cả Riêng cúc chưa phai với sắc hương. |
Xuân đến hoa vàng hoa trắng đều ngát thơm,
Đúng thì, vẻ đẹp đáng yêu, hương thơm đáng chuộng đều giống nhau.
Nhưng khi các loài hoa tươi tốt khắp nơi đều đã tàn rụng,
Thì nhan sắc phai nhạt sau cùng là bông hoa ở giậu phía đông.
Hàn Mặc Tử
Hồn Cúc
Bây lâu sát ngõ, chẳng
ngăn tường
Không dám sờ tay sợ lấm
hương
Xiêm áo đêm nay tề chỉnh
quá
Muốn ôm hồn cúc ở
trong sương.
Vịnh Hoa Cúc
Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa,
Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha.
Vẻ mặt khác chi người quốc sắc,
Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta.
Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha.
Vẻ mặt khác chi người quốc sắc,
Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta.
Trồng Hoa Cúc
Thích trồng hoa cúc để
xem chơi
Cúc ngó đơn sơ, lắm mặn
mòi
Đêm vắng gần kề say
chén nguyệt
Vườn thu vắng vẻ đủ mua vui
Ngâm vịnh (I)
1. Phong
Hiu hiu gió lọt bức rèm thưa
Tựa gối bên song, hứng chợt vừa
Bờ liễu bóng ai trông thấp thoáng
Tóc mây phất phới chạnh lòng ta
2. Hoa
Hương thơm ngào ngạt nức hương lân
Vẻ mặt không pha mảy bụi trần
Nhơ nhởn đêm xuân lồng bóng nguyệt
Bên rèm mê mẩn khách giai nhân
3. Tuyết
Trắng xóa rừng mai mấy lớp dày
Thẩn thơ đề vịnh thú đương say
Quê nhà, nhớ khách đà in vẻ
Ngơ ngẩn ngồi ôn chuyện những ngày
4. Nguyệt
Cung Thiềm tỏ rạng suốt đêm thanh
Hương quế xa đưa lọt bức mành
Gảy khúc Nghê thường êm ái lạ
Phòng thư luống ngại khách đa tình.
Hiu hiu gió lọt bức rèm thưa
Tựa gối bên song, hứng chợt vừa
Bờ liễu bóng ai trông thấp thoáng
Tóc mây phất phới chạnh lòng ta
2. Hoa
Hương thơm ngào ngạt nức hương lân
Vẻ mặt không pha mảy bụi trần
Nhơ nhởn đêm xuân lồng bóng nguyệt
Bên rèm mê mẩn khách giai nhân
3. Tuyết
Trắng xóa rừng mai mấy lớp dày
Thẩn thơ đề vịnh thú đương say
Quê nhà, nhớ khách đà in vẻ
Ngơ ngẩn ngồi ôn chuyện những ngày
4. Nguyệt
Cung Thiềm tỏ rạng suốt đêm thanh
Hương quế xa đưa lọt bức mành
Gảy khúc Nghê thường êm ái lạ
Phòng thư luống ngại khách đa tình.
Ngâm vịnh (II)
Xuân
Mát mẻ trời xuân cảnh tốt tươi
Thích tính thiếu nữ hé môi cười
Non phơi vẻ gấm hoa chường mặt
Ngọn gió xuân đưa mát cả người
Hạ
Nhành hoa héo hắt rụng bên hè
Lắng khúc đàn Nam não nuột ghê
Thiếu nữ buông rèm ra tắm nắng
Hương đưa theo gió, nức bên hè
Thu
Thuyền ai thấp thoáng giữa tràng giang
Nhạn lạc từng mây cánh vội vàng
Vầng nguyệt đêm thu soi lạnh lẽo
Mỹ nhân nàng hỡi thấu tâm can
Đông
Trắng xóa đầu non tuyết mới đông
Gọi đàn chiu chít nhạn bên sông
Phòng tiêu thiếu nữ nằm xem sách
Hé nụ cười duyên lắm mặn nồng
Mát mẻ trời xuân cảnh tốt tươi
Thích tính thiếu nữ hé môi cười
Non phơi vẻ gấm hoa chường mặt
Ngọn gió xuân đưa mát cả người
Hạ
Nhành hoa héo hắt rụng bên hè
Lắng khúc đàn Nam não nuột ghê
Thiếu nữ buông rèm ra tắm nắng
Hương đưa theo gió, nức bên hè
Thu
Thuyền ai thấp thoáng giữa tràng giang
Nhạn lạc từng mây cánh vội vàng
Vầng nguyệt đêm thu soi lạnh lẽo
Mỹ nhân nàng hỡi thấu tâm can
Đông
Trắng xóa đầu non tuyết mới đông
Gọi đàn chiu chít nhạn bên sông
Phòng tiêu thiếu nữ nằm xem sách
Hé nụ cười duyên lắm mặn nồng
Ngâm vịnh (III)
Cầm
Quen thói phong lưu với chị Hằng
Buông ra văn võ tịch tình tang
Êm đềm gảy khúc Nghê thường lại
Ngọn gió đưa lên tận Quảng Hàn
Kỳ
Thong dong ngày tháng ngựa xe chơi
Thao lược kinh luân quyết trổ tài
Quân tướng nép oai thằng sĩ tốt
Xông tên đụt pháp cỡi đầu voi
Thi
Đắc theo phong nguyệt để vui chơi
Bảy bước lên thiên ấy mới tài
Túi sẵn văn chương trời sẵn nguyệt
Tao nhân mặc khách dễ thường ai
Tửu
Thềm hoa vằng vặc mảnh trăng trong
Ba chén mua vui thấm thía lòng
Thược dược gần bên say đỏ mặt
Lắm chiều lơi lả với non sông
Quen thói phong lưu với chị Hằng
Buông ra văn võ tịch tình tang
Êm đềm gảy khúc Nghê thường lại
Ngọn gió đưa lên tận Quảng Hàn
Kỳ
Thong dong ngày tháng ngựa xe chơi
Thao lược kinh luân quyết trổ tài
Quân tướng nép oai thằng sĩ tốt
Xông tên đụt pháp cỡi đầu voi
Thi
Đắc theo phong nguyệt để vui chơi
Bảy bước lên thiên ấy mới tài
Túi sẵn văn chương trời sẵn nguyệt
Tao nhân mặc khách dễ thường ai
Tửu
Thềm hoa vằng vặc mảnh trăng trong
Ba chén mua vui thấm thía lòng
Thược dược gần bên say đỏ mặt
Lắm chiều lơi lả với non sông
Thanh nhàn
Kiếp người nghĩ lại có là bao
Phú quý mây bay chẳng khác nào
Chi dụng từng vay kho tạo hóa
Bình sinh đã nhiễm thói phong lưu
Sóng dồi mặt đá phơi đầu bạc
Nắng dọi lưng cây suốt động đào
Ba vạn công danh ừ cũng bỏ
Thoát trần ta thử hát ngêu ngao.
Bài này đăng trên báo "Tân thời".
Nguồn: Hàn Mặc Tử trong riêng tư, Nguyễn Bá Tín, NXB Hội Nhà Văn, 1994


Non sông bốn mặt ngủ mơ màng,
Thức chỉ mình ta dạ chẳng an.
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối,
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.
Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ,
Buồn giúp công danh dế dạo đàn.
Trở dậy nôm na vài điệu cũ,
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối,
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.
Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ,
Buồn giúp công danh dế dạo đàn.
Trở dậy nôm na vài điệu cũ,
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.
Bài thơ này được Sào Nam Phan Bội Châu hoạ vần.
Đây thôn Vĩ Dạ
Sao anh không về chơi
thôn Vĩ ?
Nhìn nắng hàng cau nắng
mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh
như ngọc
Lá trúc che ngang mặt
chữ điền.
Gió theo lối gió, mây
đường mây,
Dòng nước buồn thiu,
hoa bắp lay...
Thuyền ai đậu bến
sông Trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối
nay ?
Mơ khách đường xa,
khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn
không ra...
Ở đây sương khói mờ
nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm
đà ?
Tiêu đề bài thơ có nơi ghi là "Đây thôn Vĩ Giạ", hay "Ở đây thôn Vĩ Giạ".
Đêm qua ả Chức với chàng Ngưu
Nhắc chuyện yêu đương ở dưới cầu
Kể lể một năm tình vắng vẻ
Sao em buồn bã suốt canh thâu?
Đêm ấy trăng thu vui vẻ lạ!
Người ta cười nói đến nhân duyên
Sao ta không dám nhìn nhau rõ
Gặp gỡ bên đường cũng thản nhiên?
Đêm trước ta ngồi dưới bãi trông
Con trăng mắc cỡ sau cành thông
Buồn buồn ta muốn về, trăng hỏi:
Thu đến lòng em có lạnh không?
Đêm nay ta lại phát điên cuồng
Quên cả hổ ngươi, cả thẹn thuồng
Đứng rũ trước thềm nghe ngóng mãi
Tiếng đàn the thé ở bên song...
Và được tin ai sắp bỏ đi
Chẳng thèm trở lại với Tình Si
Ta lau nước mắt, mắt không ráo
Ta lẫy tình nương, rủa biệt ly!
Nguồn: Hàn Mặc Tử, Gái quê, Nxb Hội nhà văn, 1995
PHỤ LỤC:
Huyền Quang thiền sư - 玄光禪師
Huyền Quang thiền sư 玄光禪師 (hay Huyền Quang tôn giả, 1254-1334) tên thật là Lý Ðạo Tái 李道載 (có sách chép Trần Ðạo Tái, Lý Tái Ðạo). Ông người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, sinh năm Giáp Dần (1254), mất ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1334).
Theo "Tổ gia thực lục" trong "Tam tổ thực lục" thì từ nhỏ ông đã có khiếu văn chương, năm hai mươi tuổi đỗ khoa thi hương và năm sau lại đỗ đầu khoa thi hội. Được bổ dụng vào Viện nội hàn, từng tiếp sứ Bắc, rất nổi tiếng về thơ văn. Nhưng không bao lâu ông một mực xin từ chức đi tu. Được người đứng đầu dòng Thiền Trúc lâm lúc bấy giờ là Trần Nhân Tông rất quý mến, giao cho Pháp Loa hướng dẫn. Về sau ông trở thành vị tổ thứ ba của dòng thiền này.
Huyền Quang là một nhà sư đồng thời là một thi sĩ có tiếng đời Trần. Thơ ông rất đậm chất trữ tình. Các nhà phê bình đời trước như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đều khen thơ ông "ý tinh tế, cao siêu", "lời bay bướm, phóng khoáng". Có lẽ con người thi nhân trong ông rõ nét hơn con người tôn giáo. Xung quanh thân thế ông có nhiều giai thoại khá hấp dẫn, đã trở thành những câu chuyện dân gian được lưu truyền rộng rãi, và cũng đã từng được nhà văn đương thời ghi lại dưới hình thức một truyện truyền kỳ, lý thú, đi vào kho sách vở nhà Phật từ nhiều thế kỷ nay.
Tác phẩm hiện còn 24 bài thơ, trong số đó có bài "Xuân nhật tức sự" gần đây được xác minh là thơ thiền đời Tống, một bài phú Nôm, sách vở cũ cho biết ông còn có các tác phẩm "Chư phẩm kính", "Công văn tập", thư từ tiếp sứ và tập thơ "Ngọc tiên tập" nhưng nay đều đã thất lạc.
Một số sách còn chép ông chính là tác giả câu thơ nôm cảm khái về nhân tình thái thế khá chua chát sau đây:
Khó khăn thì chẳng ai nhìn,
Đến khi đỗ trạng, tám nghìn nhân duyên.
Nguồn: http://www1.agu.edu.vn/gs...14e30a526981bcc6aadd86f.1
1. Đề Động Hiên đàn việt giả sơn | 10. Cúc hoa kỳ 6 | 19. Tặng sĩ đồ tử đệ |
2. Đề Đạm Thuỷ tự | 11. Chu trung | 20. Tảo thu |
3. Ai phù lỗ | 12. Diên Hựu tự | 21. Thứ Bảo Khánh tự bích gian đề |
4. Ðịa lô tức sự | 13. Mai hoa | 22. Thạch thất |
5. Cúc hoa kỳ 1 | 14. Ngọ thuỵ | 23. Trú miên |
6. Cúc hoa kỳ 2 | 15. Nhân sự đề Cứu Lan tự | 24. Vịnh Vân Yên tự phú |
7. Cúc hoa kỳ 3 | 16. Phiếm chu | 25. Xuân nhật tức sự |
8. Cúc hoa kỳ 4 | 17. Quá Vạn Kiếp | 26. Yên Tử sơn am cư |
9. Cúc hoa kỳ 5 | 18. Sơn vũ |
哀俘虜
|
Ai phù lỗ
|
Thương tên giặc bị bắt (Người dịch: Huệ Chi)
|
刳血書成欲寄音,
孤飛寒雁塞雲深。 幾家愁對今霄月, 兩處茫然一種心。 |
Khoá huyết thư thành dục ký âm,
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm. Kỷ gia sầu đối kim tiêu nguyệt, Lưỡng xứ mang nhiên nhất chủng tâm. |
Chích máu thành thơ mượn gửi lời
Lẻ loi nhạn lạnh, ải mù khơi Đêm nay mấy kẻ sầu trăng nhỉ ? Xa cách, nhưng lòng chỉ một thôi. |
- Ẩn dịch nghĩa
Chích máu viết thư muốn gửi lời,
Cánh nhạn lạnh lùng bay xuyên vào đám mây ngoài quan ải.
Bao nhiêu nhà buồn ngắm bóng trăng đêm nay?
Đôi nơi xa cách nhưng tấm lòng nhớ thương vẫn chỉ là một.
Chích máu viết thư muốn gửi lời,
Cánh nhạn lạnh lùng bay xuyên vào đám mây ngoài quan ải.
Bao nhiêu nhà buồn ngắm bóng trăng đêm nay?
Đôi nơi xa cách nhưng tấm lòng nhớ thương vẫn chỉ là một.
題潢水寺
|
Đề Đạm Thuỷ tự
|
Đề chùa Đạm Thuỷ (Người dịch: Huệ Chi)
|
潢水亭邊野草多,
空山雨霽夕陽斜。 因過輦路投禪室, 擁梵敲鐘揀落花。 |
Đạm Thuỷ đình biên dã thảo đa,
Không sơn vũ tễ tịch dương tà. Nhân qua liễn lộ đầu thiền thất, Ủng phạm xao chung giản lạc hoa. |
Bên đình Đạm Thuỷ cỏ đua tươi,
Mưa tạnh non quang, bóng ngả dài. Tiện lối xe vua vào vãng Phật, Thỉnh chuông, giúp sãi nhặt hoa rơi. |
Bên đình Đạm Thuỷ nhiều cỏ nội,
Núi quang, mưa tạnh, bóng chiều chênh chếch.
Nhân qua con đường vua đi mà vào am thiền,
Giúp nhà chùa thỉnh chuông và nhặt hoa rơi.
題洞軒檀越假山
|
Đề Động Hiên đàn việt giả sơn
|
Đề núi non bộ của thí chủ ở Động Hiên (Người dịch: Huệ Chi)
|
花木寅緣種作山,
籠煙罩月落花寒。 從茲念慮都無俗, 贏得清風一枕安。 |
Hoa mộc di duyên chủng tác sơn,
Lung yên trạo nguyệt, lạc hoa hàn. Tùng tư niệm lự đô vô tục, Doanh đắc thanh phong nhất chẩm an. |
Quanh quất cây leo, núi chất chồng,
Hoa rơi lạnh giữa khói trăng lồng. Từ nay niệm tục thôi vương vấn, Chiếc gối an nhàn trước gió trong. |
Trồng hoa và cây quấn quýt làm thành núi non bộ,
Khói toả trăng lồng, hoa rơi lạnh lẽo.
Từ nay những mối suy nghĩ không còn vương tục luỵ,
Giành được giấc ngủ êm đềm trước luồng gió trong mát.
地爐即事
|
Ðịa lô tức sự
|
Trước bếp lò tức cảnh (Người dịch: Nguyễn Tấn Hưng)
|
煨餘榾柮色焚香,
口答山童問短章。 手把吹商和采蘀, 徒教人笑老僧忙。 |
Ổi dư cốt đột tuyệt phần hương,
Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương. Thủ bả xuy thương hoà thái thác, Ðồ giao nhân tiếu lão tăng mang. |
Trẻ xóm núi hỏi sách chương,
Liền tay, chẳng thắp thêm hương...củi tàn Bếp lò, ống thổi, no mang Mặc ai cười lão sư gàn đa đoan. |
Củi đã tàn, cũng chẳng thấp hương,
Miệng trả lời chú bé hỏi về những chương sách ngắn.
Tay cầm ống thổi, tay nhặt mo nang,
Luống để người ta cười vị sư già này bận bịu.
山宇
|
Sơn vũ
|
Nhà trong núi (Người dịch: Huệ Chi)
|
秋風午夜拂簷椏,
山宇蕭然枕綠蘿。 已矣成禪心一片, 蛩聲唧唧為誰多。 |
Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la. Dĩ hỹ thành thiền tâm nhất phiến, Cung thanh tức tức vị thuỳ đa. |
Gió thu khuya khoắt thoảng hiên ngoài,
Quạch quê nhà non lấp ruổi gai. Thôi đã theo thiền lòng lặng tắt, Nỉ non tiếng dễ vẫn vì ai ? |
Đêm khuya gió thu sịch động bức rèm,
Nhà núi đìu hiệu gối vào lùm dây leo xanh biếc.
Thôi rồi, lòng ta đã hoàn toàn yên tĩnh,
Tiếng dế vì ai vẫn rầu rĩ mãi.
早秋
|
Tảo thu
|
Buổi đầu thu (Người dịch: Nguyễn Tấn Hưng)
|
夜氣分涼入畫屏,
蕭蕭庭樹報秋聲。 竹堂忘適香初燼, 一一叢枝網月明。 |
Dạ khí phân lương nhập họa bình,
Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh. Trúc đường vong thích hương sơ tẫn, Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh. |
Gió mành tỏa mát hơi đêm,
Hàng cây hiu hắt bên thềm thu sang. Mái tranh, quên bẳng nhang tàn, Cành giăng giăng đón trăng vàng sáng trong. |
Khí đêm chia hơi mát vào bức rèm vẽ,
Cây trước sân xào xạc báo tiếng thu.
Dưới mái tranh quên bẵng hương vừa tắt,
Mấy khóm cây cành giăng lưới vầng trăng sáng.
贈仕途子弟
|
Tặng sĩ đồ tử đệ
|
Tặng những con em trên đường sĩ hoạn (Người dịch: Huệ Chi)
|
富貴浮雲遲未到,
光陰流水急相催。 何如小隱林泉下, 一榻松風茶一杯。 |
Phú quí phù vân trì vị đáo,
Quang âm lưu thuỷ cấp tương thôi. Hà như tiểu ẩn lâm tuyền hạ, Nhất tháp tùng phong, trà nhất bôi. |
Giàu sang đến chậm như mây nổi,
Năm tháng trôi vèo tựa nước sa. Rừng suối chi bằng về ẩn quách, Gió thông một sập, chén đầy trà. |
Giàu sang như mây nổi, chậm chạp chưa đến,
Quang âm như nước chảy, hối hả giục nhau qua.
Sao bằng về ẩn nơi rừng suối,
Một sập gió thông, một chén trà.
石室
|
Thạch thất
|
Nhà đá (Người dịch: Huệ Chi)
|
半間石室和雲住,
一領毳衣經歲寒。 僧在禪床經在案, 爐殘榾柮入三竿。 |
Bán gian thạch thất hoà vân trụ,
Nhất lĩnh xối y kinh tuế hàn. Tăng tại thiền sàng kinh tại án, Lô tàn cốt đột nhật tam can. |
Nửa gian nhà đá, bạn cùng mây,
Tấm áo lông thô, lạnh tháng ngày. Sư khểnh giường thiền, kinh trước án. Lò tàn, than lụi, sáng nào hay. |
- Ẩn dịch nghĩa
Nửa gian nhà đá, ở lẫn cùng mây,
Một tấm áo lông, trải hết mùa đông rét buốt.
Sư ở trên giường thiền, kinh ở trên án,
Lò tàn, củi lụi, mặt trời lên đã ba cây sào.
Nửa gian nhà đá, ở lẫn cùng mây,
Một tấm áo lông, trải hết mùa đông rét buốt.
Sư ở trên giường thiền, kinh ở trên án,
Lò tàn, củi lụi, mặt trời lên đã ba cây sào.
次寶慶寺壁間題
|
Thứ Bảo Khánh tự bích gian đề
|
Hoạ bài thơ đề trên vách chùa Bảo Khánh (Người dịch: Nguyễn Tấn Hưng)
|
荒草殘煙野思多,
南樓北館夕陽斜。 春無主惜詩無料, 愁絕東風幾樹花。 |
Hoang thảo tàn yên dã tứ đa,
Nam lâu Bắc quán tịch dương tà. Xuân vô chủ tích thi vô liệu, Sầu tuyệt đông phong kỷ thụ hoa. |
Chan chứa màu quê khói nhạt đồng
Lầu Nam quán Bắc ánh dương lồng Tiếc xuân không chủ, thơ không hứng Hoa chỉ thêm sầu nhớ gió đông. |
Cỏ hoang khói nhạt, tứ quê chan chứa,
Lầu Nam quán Bắc dưới bóng chiều tà.
Tiếc thay cảnh xuân không có chủ, thơ không có nguồn thơ,
Mấy cây hoa buồn bã trước gió xuân.
晝眠
|
Trú miên
|
Ngủ ngày (Người dịch: Kiều Thu Hoạch)
|
祖父田園任自鋤,
千青盤屈繞吾盧。 木犀窗外千鳩寂, 一枕清風晝夢餘。 |
Tổ phụ điền viên nhậm tự sừ,
Thiên thanh bàn khuất nhiễu ngô lư. Mộc tê song ngoại thiên cưu tịch, Nhất chẩm thanh phong trú mộng dư. |
Vườn tược cha ông mặc sức cày,
Quanh nhà xanh nượp mấy ngàn cây. Ngoài song, cành quê chim cưu vắng, Gió mát, triền miên giấc ngủ ngày. |
Ruộng vườn của cha ông, mặc sức tự cày cấy,
Ngàn cây xanh quanh co, vấn vít quanh nhà ta.
Trên cây quế ngoài cửa sổ, ngàn con chim cưu vắng tiếng,
Một chiếc gối trong gió mát, giấc mộng ban ngày chưa tàn.
Buông niềm trần tục;
Náu tới Vân Yên.
Chim thuỵ dõi tiếng ca chim thuỵ;
Gió tiên đua đòi bước thần tiên.
Bầu đủng đỉnh dang hoà thế giới;
Hài thong thả dạo khắp sơn xuyên.
Đất phúc địa nhận xem luống kể, kể bao nhiêu dư trăm phúc địa;
Trời Thiền thiên thập thu thửa lạ, lạ hơn ba mươi sáu Thiền thiên.
Thấy đây:
Đất tựa vàng liền;
Cảnh bằng ngọc đúc.
Mây năm thức che phủ đền Nghiêu;
Núi nghìn tầng quanh co đường Thục.
La đá tầng thang dốc, một hòn ướm vịn một hòn;
Nước suối chảy làn sâu, đòi khúc những dò đòi khúc.
Cỏ chiều gió lướt, dợm vui vui;
Non tạnh mưa dầm, màu thúc thúc.
Ngàn cây phơi cánh phượng, vườn thượng uyển đoá tốt rờn rờn;
Hang nước tuới hàm rồng, nhả ly châu hột săn mục mục.
Nhựa đông hổ phách, sáng khắp rừng thông;
Da điểm đồi mồi, gióng hoà vườn trúc.
Gác vẽ tiếng bồ lao thốc, gió vật đoành đoành;
Đền ngọc phiến bối diệp che, mưa tuôn túc túc.
Cảnh tốt hoà lành;
Đồ tựa vẽ tranh.
Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo;
Nhìn chi vua Bụt tu hành.
Hồ sen trương tán lục;
Suối trúc bấm đàn tranh.
Ngự sử mai hai hàng chầu rạp;
Trượng phu tùng mấy chạnh phò quanh.
Phỉ thuý sắp hai hàng loan phượng;
Tử vi bày liệt vị công khanh.
Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng;
Vượn bồng con kề cửa nghe kinh.
Nương am vắng Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu, mấy nhè nhẹ;
Kề song thưa thầy ngồi thiền định, trăng vằng vặc, núi xanh xanh.
Huống chi,
Vân thuỷ bằng lòng;
Yên hà phải thú.
Vui thay cảnh khác cảnh hoàng kim;
Trọng thay đường hơn đường cẩm tú.
Phân ân ái, am Não am Long;
Dứt nhân duyên, nàng Nường nàng Mụ.
Mặc cà sa nằm trướng giấy, màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương;
Quên ngọc thực bỏ hương giao, cắp nạnh cà một vò, tương một hũ.
Chốt tiết dương tiếng nhạc dõi truyền;
Voi la đá tính từ chẳng đố.
Xem phong cảnh hơn cảnh Bà Roi;
Phóng tay cầu chưng cầu Thằng Ngụ.
Bao nhiêu phong nguyệt, vào cõi vô tâm;
Chơi dấu nước non, dưỡng đời thánh thọ.
Ta nay:
Ngồi đỉnh Vân Tiêu;
Cuỡi chơi Cánh Diều.
Coi đông sơn tựa hòn kim lục;
Xem đông hải tựa miệng con ngao.
Nức đài lan nghĩ hương đan quế;
Nghe Hằng Nga thiết khúc tiêu thiều.
Quán thất bảo vẽ bao Bụt hiện;
Áo lục thù tiếng gió tiên phiêu.
Thầy tu trước đã nên Phật quả;
Tiểu tu sau còn vị tỳ-kheo.
Thấy đây:
Hồ thiên lẻ tẻ;
Xem lâu có nhẹ.
Tuy rằng học đạo hư vô;
Ngậm ngụt hỏi thiền ngôn nghĩ.
Mê một tấm lòng xét chẳng cùng;
Chác tấc bóng nghìn vàng còn rẻ.
Hẹn đến lâm tuyền làm bạn, ? ? ? ?;
Bảo rằng ? ? ? ?, ? ? ừ hễ.
Đua khoái lạc, chân bước lăm chăm;
Nhuốm phồn hoa, đầu đà bạc tỷ.
Chẳng những vượn hạc thốt thề;
Lại phải cỏ hoa cười thỉ.
Từ đến đây!
Non nước đã quen;
Người từng mấy phen.
Đầu khách dễ nên biến bạc;
Mặt non hãy một xanh đen.
Hồ nước giá lụa là lọc nước;
Cửa tráu cây phên trúc cài theo.
Đàn khúc nhạc tiếng không tiêu đính;
Vỗ tay ca cách lễ tạ liền.
Lạ những ôi!
Tây Trúc dường nào;
Nam châu có mấy.
Non Linh Thứu ai đem về đây;
Cảnh Phi Lai mặt đà thấy đấy;
Vào chưng cõi thánh thênh thênh;
Thoát rẽ lòng phàm phây phấy.
Bao nhiêu phong nguyệt, thề thốt chẳng cùng;
Hễ cảnh giang sơn, ai nhìn thấy đấy.
Từ trước nhẫn sau;
Thấy sao chép vậy.
Kệ rằng:
Rũ không thay thảy ánh phồn hoa,
Lấy chốn thiền lâm làm cửa nhà.
Khuya sớm sáng choang đèn bát-nhã,
Hôm mai rửa sạch nước ma-ha.
Lòng thiền vặc vặc trăng soi giọi,
Thế sự hiu hiu gió thổi qua.
Cốc được tính ta nên Bụt thực,
Ngại chi non nước cảnh đường xa.
Náu tới Vân Yên.
Chim thuỵ dõi tiếng ca chim thuỵ;
Gió tiên đua đòi bước thần tiên.
Bầu đủng đỉnh dang hoà thế giới;
Hài thong thả dạo khắp sơn xuyên.
Đất phúc địa nhận xem luống kể, kể bao nhiêu dư trăm phúc địa;
Trời Thiền thiên thập thu thửa lạ, lạ hơn ba mươi sáu Thiền thiên.
Thấy đây:
Đất tựa vàng liền;
Cảnh bằng ngọc đúc.
Mây năm thức che phủ đền Nghiêu;
Núi nghìn tầng quanh co đường Thục.
La đá tầng thang dốc, một hòn ướm vịn một hòn;
Nước suối chảy làn sâu, đòi khúc những dò đòi khúc.
Cỏ chiều gió lướt, dợm vui vui;
Non tạnh mưa dầm, màu thúc thúc.
Ngàn cây phơi cánh phượng, vườn thượng uyển đoá tốt rờn rờn;
Hang nước tuới hàm rồng, nhả ly châu hột săn mục mục.
Nhựa đông hổ phách, sáng khắp rừng thông;
Da điểm đồi mồi, gióng hoà vườn trúc.
Gác vẽ tiếng bồ lao thốc, gió vật đoành đoành;
Đền ngọc phiến bối diệp che, mưa tuôn túc túc.
Cảnh tốt hoà lành;
Đồ tựa vẽ tranh.
Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo;
Nhìn chi vua Bụt tu hành.
Hồ sen trương tán lục;
Suối trúc bấm đàn tranh.
Ngự sử mai hai hàng chầu rạp;
Trượng phu tùng mấy chạnh phò quanh.
Phỉ thuý sắp hai hàng loan phượng;
Tử vi bày liệt vị công khanh.
Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng;
Vượn bồng con kề cửa nghe kinh.
Nương am vắng Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu, mấy nhè nhẹ;
Kề song thưa thầy ngồi thiền định, trăng vằng vặc, núi xanh xanh.
Huống chi,
Vân thuỷ bằng lòng;
Yên hà phải thú.
Vui thay cảnh khác cảnh hoàng kim;
Trọng thay đường hơn đường cẩm tú.
Phân ân ái, am Não am Long;
Dứt nhân duyên, nàng Nường nàng Mụ.
Mặc cà sa nằm trướng giấy, màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương;
Quên ngọc thực bỏ hương giao, cắp nạnh cà một vò, tương một hũ.
Chốt tiết dương tiếng nhạc dõi truyền;
Voi la đá tính từ chẳng đố.
Xem phong cảnh hơn cảnh Bà Roi;
Phóng tay cầu chưng cầu Thằng Ngụ.
Bao nhiêu phong nguyệt, vào cõi vô tâm;
Chơi dấu nước non, dưỡng đời thánh thọ.
Ta nay:
Ngồi đỉnh Vân Tiêu;
Cuỡi chơi Cánh Diều.
Coi đông sơn tựa hòn kim lục;
Xem đông hải tựa miệng con ngao.
Nức đài lan nghĩ hương đan quế;
Nghe Hằng Nga thiết khúc tiêu thiều.
Quán thất bảo vẽ bao Bụt hiện;
Áo lục thù tiếng gió tiên phiêu.
Thầy tu trước đã nên Phật quả;
Tiểu tu sau còn vị tỳ-kheo.
Thấy đây:
Hồ thiên lẻ tẻ;
Xem lâu có nhẹ.
Tuy rằng học đạo hư vô;
Ngậm ngụt hỏi thiền ngôn nghĩ.
Mê một tấm lòng xét chẳng cùng;
Chác tấc bóng nghìn vàng còn rẻ.
Hẹn đến lâm tuyền làm bạn, ? ? ? ?;
Bảo rằng ? ? ? ?, ? ? ừ hễ.
Đua khoái lạc, chân bước lăm chăm;
Nhuốm phồn hoa, đầu đà bạc tỷ.
Chẳng những vượn hạc thốt thề;
Lại phải cỏ hoa cười thỉ.
Từ đến đây!
Non nước đã quen;
Người từng mấy phen.
Đầu khách dễ nên biến bạc;
Mặt non hãy một xanh đen.
Hồ nước giá lụa là lọc nước;
Cửa tráu cây phên trúc cài theo.
Đàn khúc nhạc tiếng không tiêu đính;
Vỗ tay ca cách lễ tạ liền.
Lạ những ôi!
Tây Trúc dường nào;
Nam châu có mấy.
Non Linh Thứu ai đem về đây;
Cảnh Phi Lai mặt đà thấy đấy;
Vào chưng cõi thánh thênh thênh;
Thoát rẽ lòng phàm phây phấy.
Bao nhiêu phong nguyệt, thề thốt chẳng cùng;
Hễ cảnh giang sơn, ai nhìn thấy đấy.
Từ trước nhẫn sau;
Thấy sao chép vậy.
Kệ rằng:
Rũ không thay thảy ánh phồn hoa,
Lấy chốn thiền lâm làm cửa nhà.
Khuya sớm sáng choang đèn bát-nhã,
Hôm mai rửa sạch nước ma-ha.
Lòng thiền vặc vặc trăng soi giọi,
Thế sự hiu hiu gió thổi qua.
Cốc được tính ta nên Bụt thực,
Ngại chi non nước cảnh đường xa.
(Huệ Chi phiên âm từ chữ Nôm).
春日即事
|
Xuân nhật tức sự
|
Tức cảnh ngày xuân (Người dịch: Huệ Chi)
|
二八佳人刺繡持,
紫荊花下轉黃鸝。 可憐無限傷春意, 盡在停針不語時。 |
Nhị bát giai nhân thích tú trì,
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly. Khả liên vô hạn thương xuân ý, Tận tại đình châm bất ngữ thì. |
Lỏng tay thêu gấm, gái yêu kiều,
Hoa rợp, oanh vàng lảnh lót kêu. Bao nỗi thương xuân, thương biết mấy, Là khi không nói, chợt dừng thêu. |
- Ẩn dịch nghĩa
Người đẹp tuổi vừa đôi tám, ngồi thêu gấm chậm rãi,
Dưới lùm hoa tử kính đang nở, líu lo tiếng chim oanh vàng.
Thương biết bao nhiêu cái ý thương xuân của nàng,
Cùng dồn lại ở một giây phút, đứng kim và im phắc.
Người đẹp tuổi vừa đôi tám, ngồi thêu gấm chậm rãi,
Dưới lùm hoa tử kính đang nở, líu lo tiếng chim oanh vàng.
Thương biết bao nhiêu cái ý thương xuân của nàng,
Cùng dồn lại ở một giây phút, đứng kim và im phắc.
Bài thơ này đã được xác minh lại là thơ thiền đời Tống (Trung Quốc).
安子山庵居
|
Yên Tử sơn am cư
|
Ở am núi Yên Tử (Người dịch: Đỗ Văn Hỷ)
|
庵逼青霄冷,
門開雲上層。 已竿龍洞日, 猶尺虎溪冰。 抱拙無餘策, 扶衰有瘦藤。 竹林多宿鳥, 過半伴閒僧。 |
Am bức thanh tiêu lãnh,
Môn khai vân thượng tằng. Dĩ can Long Động nhật, Do xích Hổ Khê băng. Bão chuyết vô dư sách, Phù suy hữu sấu đằng. Trúc lâm đa túc điểu, Quá ngọ bán nhàn tăng. |
Am sát trời xanh lạnh,
Cửa mở trên tầng mây. Động Rồng trời sáng bạch, Khe Hổ lớp băng dầy. Vụng dại mưu nào có, Già nua gậy một cây. Rừng tre chim chóc lắm, Quá nửa bạn cùng thày. |
- Ẩn dịch nghĩa
Cao sát trời xanh, am thiền mát lạnh,
Cửa mở trên tầng mây.
Trước Long Động mặt trời đã một cây sào,
Dưới Hổ Khê băng còn dầy một thước.
Giữ thói vụng về không có mưu chước gì,
Đỡ tấm thân già yếu đã có chiếc gậy mây khẳng kheo.
Rừng trúc nhiều chim đậu,
Quá nửa làm bạn với nhà sư thanh nhàn.
Cao sát trời xanh, am thiền mát lạnh,
Cửa mở trên tầng mây.
Trước Long Động mặt trời đã một cây sào,
Dưới Hổ Khê băng còn dầy một thước.
Giữ thói vụng về không có mưu chước gì,
Đỡ tấm thân già yếu đã có chiếc gậy mây khẳng kheo.
Rừng trúc nhiều chim đậu,
Quá nửa làm bạn với nhà sư thanh nhàn.
| |||||||||
I . Tiểu sửSư sinh năm 1254 tại làng Vạn Tải, lộ Bắc Giang - đến đời Lê đổi tên là làng Vạn Tư, huyện Gia Định. Sư, tuổi đời cao hơn nhị tổ Pháp Loa 30 tuổi. Thể mạo có vẻ kỳ dị. Chí khí thì cao vời. Rất thông minh, học một tỏ mười; từ nhỏ đã học luyện văn chương. An Tâm quốc sư, đệ tử nối nghiệp tuệ đăng của sư ghi lại trong Tổ Gia Thực Lục rằng :"Sư có tài của Nhan Hồi Á thánh, nên thân phụ thân mẫu đặt tên là Tái Đạo. Năm 20 tuổi, đỗ thi Hương, liền năm sau đỗ thủ khoa thi Hội ( đỗ Khôi nguyên ).Từ thanh niên, từ chối lập gia đình, và xin miễn thành hôn với công chúa Liễu Nữ, cháu của An Sinh Vương.Làm quan trong triều 20 năm, từng phụng mệnh vua tiếp Bắc Sứ, nhờ vào tài ứng đối và học vấn thông thái bác lãm.Năm 51 tuổi, 1305, xuất gia làm đệ tử quốc sư Bảo Phác, y chỉ với nhị tổ Pháp Loa - thực ra, theo sự chỉ dạy của Nhân Tông, sư hộ trì cho Pháp Loa -. Sư theo hầu sát cạnh Nhân Tông trong hai năm cuối của Nhân Tông ( cho đến năm 1308 ). Trong hai năm này, theo lệnh của Trúc Lâm nhất tổ ( hay Điều Ngự Giác Hoàng ), sư biên soạn các sách :- Chư phẩm Kinh : tuyển tập các Kinh tinh yếu.- Công văn tập : các bài sớ, điệp...- Thích Khoa giáo : giáo lý căn bản của Phật học.Điều Ngự Giác Hoàng đã ngự bút phê :"Phàm sách nào đã qua tay Huyền Quang biên soạn, hiệu khảo rồi thì không thể thêm hay bớt một chữ nào nữa". Sư hiện rõ là cây bút chủ chốt của " Thiền học Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử ". Trúc Lâm Đầu Đà từng cho phép Huyền Quang ngồi trên tòa trầm hương của mình để thuyết pháp : điều nầy là hình thức Điều Ngự xác chứng khả năng pháp sư đạt đạo của Huyền Quang. Điều Ngự lập sư làm trú trì chùa Hoa Yên núi Yên Tử. Tăng, Ni đến thụ giáo, học đạo với sư số đến nghìn người.Sau khi lập An Tâm, đệ tử, làm trú trì chùa Hoa Yên, sư về an nghĩ ở Côn Sơn - không rõ thời gian. Sư tịch ở Côn Sơn năm 1334.( Theo VNPGSL, Nguyễn Lang, từ tr. 426-429 )II. Huyền Quang, một thiền sưVăn học Việt Nam và Văn học Phật giáo Việt Nam đã hưng thịnh từ đầu đời Lý qua đời Trần cho đến Trần Anh Tông, đặc biệt dưới thời Trần Nhân Tông với những bậc trí tuệ lỗi lạc như Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Huyền Qrang, Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Đại Vương), v.v... hẳn là có nhiều công trình sáng tác, biên khảo rất giá trị, phong phú. Chỉ tiếc vì sự xâm lược của quân nhà Minh vào thời Hồ Quý Ly đã cố ý hủy diệt nền văn hoá của ta : phá hủy và lấy về Trung Quốc các công trình văn học, sử học, nên nay tài liệu văn, sử phát hiện quá ít ỏi. Về thiền sư Huyền Quang, những sáng tác và san định của sư cũng bị thất lạc hầu hết : phải nói rằng những gì bị thất lạc là những gì quý giá, còn quý giá hơn những gì hiện có, bởi lẽ quân Minh - và cả các đoàn xâm lược khác - luôn luôn muốn đốt cháy hết những gì quý giá nhất của Việt Nam.Dù vậy, trong vài sử liệu còn sót lại, ngày nay ta vẫn có thể hình dung ra trí tuệ và tài văn bút của sư.Về sự nghiêm túc chứng đắc giải thoát của thiền sư Tam tổ Trúc Lâm, ta có thể khảo sát qua mẩu đối thoại giữa sư và nhị tổ Pháp Loa trước ngày nhị tổ viên tịch, và qua một vài sáng tác thi ca khác.Sư Huyền Quang thăm hỏi nhị tổ:- Thức với ngủ đã là một chưa ?- Pháp Loa đáp : là một, cũng như khi không có bệnh.- Vậy thì bệnh và không bệnh đã là một chưa ?- Bệnh cũng chẳng can gì đến kẻ khác, không bệnh cũng chẳng can gì đến kẻ khác.- Vậy thì tiếng nói nhắm vào cái gì ?- Thì gió thổi trong cây cứ mặc nó chứ.- Tiếng gió thổi trong cây không làm cho người ta mê hoặc, nhưng lời nói mê trong giấc ngủ lại có thể làm mê hoặc người, Huyền Quang tiếp.- Kẻ si mê cũng có thể bị tiếng gió trong cây làm mê hoặc lắm chứ, Pháp Loa nói.- Chỉ có một cái tật đó mà đến chết cũng không chừa, Huyền Quang nói.- Pháp Loa liền dùng chân hất nhẹ Huyền Quang và không nói gì. Huyền Quang lui ra.Qua một mẩu đối thoại ấy, Huyền Quang hẳn là chưa đón nhận được cái thực sự giải thoát khỏi tưởng tự ngã toát ra từ ngôn ngữ của Pháp Loa. Huyền Quang lui ra mà lòng vẫn cứ tần ngần. Phần Pháp Loa thì sau lời nói trách nhẹ sau cùng của Huyền Quang rằng :" Chỉ có cái tật đó mà đến chết cũng không chừa", thì tự biết có lẽ lòng mình còn có cái gì cần tự phản tỉnh, dứt bỏ.Quả thực, qua lời thoại, ta nghe lời đáp của Pháp Loa rặt hơi thông minh của lập luận phân biệt hữu tướng. Đây đúng là cái "đuôi nòng nọc hữu niệm" chưa kịp rụng, và đây đúng là lý do của cảm giác tần ngần của sư Huyền Quang về cái điều mà sư gọi là "chỉ có cái tật đó mà đến chết cũng không chừa".Ba tuần lễ sau, khi bệnh của Pháp Loa trở nên trầm trọng, sư Huyền Quang trở lại viếng người ở chùa Quỳnh Lâm, tối mồng 3 tháng 3, sư lại hỏi:- Xưa nay các bậc đạt ngộ khi giờ phút đến, muốn ở thì ở, muốn đi thì đi.- Pháp Loa bảo : đi hay ở đều không can hệ chi tới ai.( lần nầy có lẽ giọng nói với âm sắc tự tại )- Huyền Quang tiếp : Vậy thì sao ?- Pháp Loa đáp : thì tùy xứ tát-bà-ha !( có lẽvới đôi môi và đôi mắt mỉm cười )Liền tiếp, môn đệ vào xin kệ thị tịch. Pháp Loa viết xong bài kệ bốn câu, buông bút và tịch.( VNPGSL, Nguyễn Lang,..., tr.435-436 )Tại đây, sư Huyền quang cũng nghe lòng mình thanh thản, vơi nhẹ. Cái âm thanh "tùy xứ tát-bà-ha" nghe như có âm hưởng "sở tác dĩ biện"(các việc cần làm đã làm xong) của một A-la-hán tròn phạm hạnh.Chẳng phải chỉ có người ra đi là "tùy xứ tát-bà-ha" mà người ở lại, sư Huyền Quang, cũng tùy xứ tát-bà-ha. Sau đó, sư lập An Tâm lên làm trú trì chùa Hoa Yên, trở về nghỉ tại Côn Sơn, vừa dạy điệu, vừa khua chuông, vừa thổi sáo trong cảnh đạm bạc, lắng tịnh, tự tại phiêu du:" Củi hết, lò còn vương khói nhẹSơn đồng hỏi nghĩa một chương kinhTay cầm dùi mõ, tay nâng sáoThiên hạ cười ta cứ mặc tình "( " Ổi dư cốt đốt độc hoàng hươngKhẩu đáp sơn đồng vấn đoản chươngThủ ba xuy thương hòa mộc đạcTùng giao nhân tiếu lão tăng mang.")( VNPGSL, Nguyễn Lang,..., tr.440 )Sự đạt đạo của sư để lại ấn tượng rõ nét hơn qua bài kệ:" Thành ngăn tục lụy trần không vướngCửa mở vô ưu mắt rộng tầmQuán rõ thị phi bình đẳng tướngMa cung, Phật quốc cũng ngồi chung "( " Vạn duyên bất nhiễu thành già tụcBán điểm vô ưu, nhãn phóng khoanTham thấu thị phi bình đẳng tướngMa cung Phật quốc hảo sinh quan" )( VNPGSL, Nguyễn Lang,..., tr.446 )Hai dòng kệ đầu là nói lên sự sư đã hành ổn nền tảng về Giới học và Định học, đã nhiếp phục thuần thục các cảm thọ ( nên vô ưu ).Dòng kệ thứ ba "Tham thấu thị phi bình đẳng tướng" là đã trải nghiệm xong công phu thiền quán thấy rõ "thị" là pháp tánh vô ngã tánh, và "phi" cũng là pháp tánh vô ngã tánh. Cả hai đều là thực tại, có cùng thực tại tánh vô ngã. Đó cũng là Phật tánh, nên ma cung với Phật quốc chẳng phải là hai đầu cách biệt nữa. Đây là sự tỏ ngộ, chứng đắc rất truyền thống, từ thời đức Thế Tôn tại thế.Tam tổ Huyền Quang, sinh thời là một người thông tuệ, đã qua hơn 50 năm trải nghiệm các hư vọng và tỉnh thức, qua hơn 20 năm nhắm đích giải thoát thẳng tiến, thì "tùy xứ tát-bà-ha" là sự thành tựu tất yếu!III. Huyền Quang, một nhà thơIII.1 : Vần thơ Hoa YênThiền sư Huyền quang,lúc còn tại chức ở triều đình thì sống độc thân, không vướng bận chuyện gia thất, ít vướng vào chuyện tục lụy, đục trong ở đời. Lúc xuất gia thì ở cạnh Nhân Tông trang nghiêm thanh tịnh. Tâm tình sư hòa hợp với núi rừng, thiên nhiên. Hãy lắng nghe những dòng Phú nôm của sư vịnh chùa Hoa Yên:" Buông niềm trần tụcNáu tới Hoa YênChim thụy dõi tiếng ca chim thụyGió tiên đưa đòi bước thần tiênBầu đủng đỉnh giang hòa thế giớiGiày thong thả dạo khắp sơn xuyênĐất phúc địa nhận xem luống kể - Kể bao nhiêu dư trăm phúc địaTrời thiền thiên hiệp thâu thửa lạ - Lạ hơn 36 thiền thiênThấy đây:Đất tựa vàng lênCảnh bằng ngọc đúcMây năm thức che phủ đền NghiêuNon nghìn tầng quanh co đường ThụcLa đá tầng thê dốc, một hòn ôm vịn một hònDòng nước chảy làn sâu, đòi khúc những dò đòi khúcCỏ chiều gió lướt dạm vui vuiNon tạnh mưa dầm màu thúc thúcNgàn cây phi cánh Phượng, vườn thượng uyển đóa tốt rờn rờnHang nước tưới Hàm Rồng, nhả li châu hột san mục mụcNhựa đông hổ phách, sáng khắp rừng thôngDa điểm đồi mồi, đổng hòa vườn trúcGác vẽ tiếng bồ lao thốc, gió vật đoành đoànhĐiện ngọc phiến bối diệp che, mưa tuôn túc túcCảnh tốt hòa lànhĐồ tựa vẽ tranhChỉn ấy Trời thiêng mở khéoNhèn chi vua Bụt tu hànhHồ sen trương tán lụcSuối trúc bấm đàn tranhNgự sử mai hai hàng chầu rậpTrượng phu tùng mấy chạnh phò oanhPhỉ thúy sắp hai hàng loan phượngTử vi bày liệt vị công khanhChim óc bạn cắn hoa nâng cúngVượn bồng con kề cửa nghe kinhNương am vắng Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu mây nhè nhẹKề song thưa thầy ngồi thiền định, trăng vằng vặc, núi xanh xanh...( Theo VNPGSL, Nguyễn Lang,..., tr.448-450 )Bài phú chữ Nôm trên là một bài tả cảnh chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử. Ngày nay khách hành hương dễ dàng đến viếng và ngoạn cảnh. Cảnh nay vẫn còn đẹp, nhưng hẳn là kém hơn ngày ấy, thời sư Huyền Quang nhiều. Dù vậy, khách vẫn có thể từ cảnh núi non hiện tại mà đi vào cảm xúc của bài phú.Cảm xúc đầu tiên khi đặt chân đến chùa trên núi ( từ chùa Đồng ) thì hầu như mọi khách đều nghe thoát tục lạ, thanh thoát trong sáng lạ! Phương chi, từ sơ tổ đến tam tổ Trúc Lâm đều rời đế đô đến ngự ở Hoa Yên: đấy là sự kiện cả thân lẫn tâm của các tổ đã rời tục lụy, thực sự rời tục lụy.Qua một đoạn đường dài dốc núi quanh co, đến cổng chùa HoaYên là khách đã cảm nhận sự "rã rời" của thân ngũ ấm. Cứ đường núi lên, xuống nầy lập lại trong chừng một tuần lễ là hành giả thành tựu được "Niệm giác chi" rời bỏ hết thảy cấu uế của tâm - những ham muốn trần tục, sân, hận, phẫn, xan tham, tật đố, ngã mạn cống cao,..., điều mà sư Huyền Quang bảo là:" Buông niềm trần tụcNáu tới Hoa Yên "hay :" Thành ngăn tục lụy trần không vướngCửa mở vô ưu mắt rộng tầm "Với tâm thanh thản, khách phóng tầm nhìn quanh vùng, sẽ thấy sự hoà điệu của thiên nhiên. Ở đây, người, vật, chim chóc, cỏ cây, hoa lá chung sống an lành. Tiếng chim hót như là niềm vui của núi đồi. Tiếng suối reo như là" khúc đàn hội ngộ". Gió vờn cây lá như những tiếng thì thào đàm đạo. Toàn cảnh Hoa Yên như một Pháp hội thường thuyết mà khách có thể lắng nghe.Nếu ở triều đình có các quan chầu hầu mỗi ngày, thì ở Hoa Yên quanh năm dãy tùng, mai trang nghiêm đứng lặng che mát lối đi, chim vào chùa dâng hoa, vượn ghé thất nghe đạo. Một cảnh Thăng Long trần tục, một cảnh Yên Tử thần tiên. Ở triều, thì Điều Ngự bủa đức cho muôn dân, ở núi, thì Giác Hoàng rãi tâm từ cho ngàn sao mây, nước cho trăng sáng, gió thanh :" Nương am vắng Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu mây nhè nhẹKề song thưa thầy ngồi thiền định, trăng vằng vặc, núi xanh xanh..."Lòng ấy thì tương hợp cảnh ấy:" Chỉn ấy trời thiêng mở khéoNhèn chi vua Bụt tu hành "Ở Thăng Long thì có mái lưu ly, thành lũy bao che, nơi Yên Tử thì mây ngũ sắc vần vũ, núi biếc non xanh vây bọc:" Mây năm thức che phủ đền NghiêuNon nghìn tầng quanh co đường Thục "Đấy là hai cảnh của một quê mà ngòi bút của Huyền Quang khéo vẽ. Bút pháp của người khiến cho núi non Yên Tử thêm đẹp thêm xinh, đầy tình đời ý đạo: Ở Yên Tử vẫn thường vẳng lên câu nói "bệ hạ hãy trở về triều đình vừa tu, vừa lo việc triều chính", "bệ hạ hãy lấy cái tâm của thiên hạ làm cái tâm của mình, lấy cái muốn của thiên hạ làm cái muốn của mình", vẫn hiện diện nhân cách hai lần oai hùng đại thắng quân Nguyên Mông; ở Thăng Long vẫn lồng bóng hình thiền định của Yên Tử, vẫn vọng tiếng sáo Côn Sơn thổi hồn thơ vào văn chương, thi ca nước Việt; đất Hoa Yên như vàng dâng xứ sở, cảnh Hoa Yên tựa ngọc tặng quê hương. Ngòi bút của Huyền Quang quả đã thu gom đủ "chiếc dép của Đạt Ma", "chiếc gậy của Đức Sơn" và "tiếng hét của Lâm Tế", ngoại nhân sao có thể xoá hết sự thật lịch sử nầy? (!)III. 2 : Vần thu cảmNhững bài thơ của thiền sư Huyền Quang ghi lại không còn bao nhiêu. Trong số các bài còn lại hiếm hoi ấy thì đã có ba bài : Vịnh Hoa Cúc, Đi Thuyền và Đầu Thu được cảm tác vào tiết thu và về tiết thu như :- " Năm, năm nở đúng tiết thu quaGió dịu trăng thanh ý mặn mà..."( Vịnh Hoa Cúc )( " Niên niên hòa lộ hướng đương khaiNguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài " )( VNPGSL, Nguyễn Lang,..., tr.442-443 )- " Hương đêm mát dịu, bình phong lạnhXào xạc thu sang lá động cành... "( Đầu Thu )( " Dạ khí phân phương nhập họa bìnhTiêu tiêu đình thụ báo thu thanh " )( VNPGSL, ibid., tr.443-444 )- " Mênh mông theo gió con thuyền nhỏThu sáng ngời xanh bóng nước, cây..." )( Đi Thuyền )( " Tiểu đỉnh thừa phong phiếm diểu mangSơn thanh thủy lục hựu thu quang..." )( VNPGSL, ibid., tr.444 )Nhớ lại, sư Huyền Quang xuất gia năm 51 tuổi, là tuổi đầu thu của đời người, tuổi khởi đầu giai đoạn đi vào lão suy ( trong 4 giai đoạn thành, trú, hoại, không ). Tiết thu cũng là đầu mùa lá đỗ ( rụng ). Đấy là thời điểm nhà thơ thiền sư có nhiều xúc cảm, và tâm thức có nhiều chuyển động. Người viết ngưỡng mộ đọc lại từng dòng thơ và lắng nghe từng cảm xúc của người, dù biết rằng rất khó mà tìm gặp cảm xúc ấy :Bài 1 : Đi Thuyền" Mênh mông theo gió con thuyền nhỏThu sáng ngời xanh bóng nước, câyTiếng sáo thôn chài, lau lách vọngTrăng lặn lòng sông, sương trắng đầy "( " Tiểu đỉnh thừa phong phiếm diểu mangSơn thanh thủy lục hựu thu quangSổ thanh ngư địch lô hoa ngoạiNguyệt lạc ba tâm giang mãn sương ")Cảnh thuyền đi của nhà thơ là cảnh trăng lặn vào lúc tản sáng, khi mà cây đã soi bóng trên dòng nước giữa trời Thu sáng. Chiếc thuyền như trôi theo gió giữa dòng nước mênh mông, cạnh thôn chài; hẳn là thuyền đi trên một con sông lớn, rộng. Giữa cảnh rạng đông ấy có tiếng sáo trong trẻo vọng lại, vừa yên tỉnh vừa sống động. Người đi nhìn hình ảnh trăng lặn giữa lòng sông, chung quanh mình đầy những sương mai; trước mắt sắp xuất hiện một bình minh rạng rỡ. Đấy là toàn bộ cảm xúc.Hình ảnh trăng lặn lòng sông trong thiền thi - "thủy nguyệt" - là sự thực của vạn hữu mà con người đang xúc tiếp , đón nhận: nó hiện hữu như trăng trong nước - mà không phải là mảnh trăng thật - như có như không. Đây là ý nghĩa của sự chấp thủ Hữu, Không ở đời, "Hữu Không như thủy nguyệt", ( Có, Không như trăng dưới nước) mà không phải là thật tướng vô tướng. Cái thấy Hữu, Không ấy đầy sương mù của vọng tưởng như là chiếc thuyền đi đang chở "sương trắng đầy" rất thơ và rất đạo! Thiên hạ thì cứ việc chấp Hữu, Không, thị, phi, còn thiền sư thì thanh thản ngắm cảnh không dính mắc, và lắng nghe tiếng sáo vi-vu từ thôn chài vọng lại. Conthuyền ấy và tâm thức ấy tiếp tục đi vào bình minh của tạo vật và bình minh của giải thoát.Thiền sư Huyền Quang, qua cảm tác "Thuyền Đi", đã nói đạo bằng thơ, rất nhẹ!Bài 2 : Đầu Thu" Hương đêm mát dịu, bình phong lạnhXào xạc thu sang lá động cànhTrúc đường thong thả, hương vừa đốtCành cây giăng võng lọt trăng thanh "( " Dạ khí phân phương nhập họa bìnhTiêu tiêu đình thụ báo thu thanhTrúc đường vong thích hương sơ tẫnNhất nhất tùng chi võng nguyệt minh." )(VNPGSL, Nguyễn Lang,..., tr.443-444 )Cảnh đầu thu vào đêm, cành cây như giăng võng đón trăng, nghe lá đổ báo mùa thu đang đến, nhìn ánh trăng lọt qua kẻ lá. Nhà thơ sống không bận tâm đến thời gian : nghe lá đổ thì biết là thu đến; thấy hoa cúc nở thì nhận ra "tiết trùng dương; lòng yên tỉnh nghe rõ cả đến hương đêm; ghi nhận cảnh vật với tâm xả như là trẻ thơ : mũi thì nghe hương trúc đường và hương đêm, tai thì nghe tiếng lá rơi xào xạc, mắt thì nhìn ánh trăng xuyên qua kẻ lá. Cảnh ấy đến báo với nhà thơ là thu đến. Thế thôi. Đấy là công việc của các căn các trần, còn nhà thơ thì như là tỉnh giác ở đằng sau cảnh ấy và hầu như tự nhũ: " hãy để cho cái thấy là cái thấy, cái nghe là cái nghe, và cái thức tri là cái thức tri"! Đây là nghệ thuật sống của một thiền giả để lại kinh nghiệm thiền trong cảm tác "Đầu Thu".Bài 3 : Vịnh Hoa Cúc" Đường nhà Tưởng Hủ tre reo gióVườn cảnh Tây Hồ đẹp nét maiNghĩa khí chẳng đồng, tình chẳng hợpCúc hoa nở sáng khắp vườn ai.Ngàn sông không đủ thấm lòng giàBách vịnh mai hoa vẫn kém xaĐầu bạc ngâm hoài vần chưa ổnThấy hoa cúc nở rộn lòng ta.Quên thân quên thế thảy đều quênThiền tọa giờ lâu lạnh thấm giườngTrên núi năm tàn không có lịchThấy hoa cúc nở: tiết trùng dương.Năm, năm nở đúng tiết thu quaGió dịu trăng thanh ý mặn màCười kẻ không hay hoa huyền diệuKhi về, mái tóc giắt đầy hoa.Người ở trên lầu, hoa dưới sânVô ưu ngồi ngắm, khói trầm xôngHồn nhiên người với hoa vô biệtMột đoá hoa vàng chợt nở tung.Phương chi xuân sắc, trắng hay vàngThời tiết tùy loài hợp sắc hươngKhi mọi loài hoa rơi chật đấtDậu Đông hoa Cúc vẫn chưa tàn."( " Tùng thanh Trưởng Hủ tiên sinh kínhMai cảnh Tây Hồ xử sĩ giaNghĩa khí bất đồng nan cẩu hợpCố viên xứ xứ thổ hoàng hoa.Thiên giang vô mộng cán khô trườngBách vịnh mai hoa nhượng hảo trangLão khứ sầu ngâm hồn vị ổnThi biều thực vị cúc hoa mang.Vương thân vương thế dĩ đô vươngTọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lươngTuế vãn sơn trung vô lịch nhậtCúc hoa khai xứ tức trùng dương.Niên niên hòa lộ hướng đương khaiNguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoàiKham tiếu bất minh hoa diệu xứMãn đầu tùy đáo tháp quy lai.Hoa tại trung đình nhân tại lâuPhần hương độc tọa tự vong âuChủ nhân dữ vật hồn vô cạnhHoa hướng quần phương xuất nhất đầu.Xuân lai hoàng bạch các phương phiÁi diễm liên hương diệc tự thìBiến giới phồn hoa toàn trụy địaHậu điêu nhan sắc thuộc đông ly"( VNPGSL, Nguyễn Lang,..., tr.441-443 )Trên thi đàn Việt Nam, sư Huyền Quang được biết đến như là nhà thơ của hoa Cúc, từ bài Vịnh "Hoa Cúc" bất hủ của người. Người gọi hoa Cúc là loại hoa huyền diệu : đấy là cảm nhận riêng của nhà thơ vừa là thiền sư lỗi lạc của triều Trần. Thật khó cho ta có được cảm xúc đặc biệt ấy!Hai nhà xử sĩ Tưởng Hủ và Tây Hồ thì đắm trước riêng trúc và mai, tính chẳng hợp: đó là sự dính mắc.Nhà sư tu hành thì chuộng hoa Cúc, trồng đầy một vườn Cúc, nhưng người với hoa tự tại không vướng mắc. Cúc thì có cả trăm loại nhiều hương sắc - đặc biệt là những màu vàng cúc ly dục, thoát trần - hiện diện vào thời điểm mà trăm loài hoa khác lụi tàn. Bấy giờ chỉ có riêng Cúc nổi bật sự tồn sinh thanh thoát. Thế nên nhà thiền thơ bảo:" Ngàn sông không đủ thấm lòng giàBách vịnh mai hoa vẫn kém xaĐầu bạc ngâm hoài vần chưa ổnThấy hoa Cúc nở rộn lòng ta."Nhà thơ cảm thấy trong các loài hoa khác, gồm hoa mai, dù thường được các thi nhân tán vịnh, vẫn còn có cái gì đó khiếm khuyết - nên ngâm hoài mà vẫn vẫn chưa ổn -, không nghe ở đó có tiếng nói vô sinh. Giữa lúc đó, vào tiết Thu heo heo lạnh thì hoa Cúc bừng nở sáng lên như là đứng vững với thời gian, bất diệt vô sinh, khiến lòng sư vui rộn. Hãy xem thiền sư già, Huyền Quang, ngắm hoa cúc nở:" Người ở trên lầu, hoa dưới sânVô ưu ngồi ngắm, khói trầm xôngHồn nhiên người với hoa vô biệtMột đóa hoa vàng chợt nở tung "Nhà thơ đã đốt trầm và một mình không chút ưu lự ngắm nhìn hoa cúc dưới sân. Hương trầm là hương thiền khiến tâm người lắng đọng tập chú nhìn hoa đến độ chỉ có sự nhìn có mặt - chủ thể nhập vào đối tượng -; giữa khi ấy, hoa cúc bỗng bung cánh nở, như là tâm thức người nhìn cũng bùng ra bừng ngộ. Đây là điều diệu kỳ của cái nhìn ngắm hoa, rất thiền mà sư Huyền Quang thân chứng và để lại kinh nghiệm trên thi đàn.Vấn đề là ngắm hoa có nghệ thuật mới thấy được lẽ huyền diệu biểu hiện nơi hoa, mà không phải là ngắt hoa để cắm vào bình, hay để cài trên mái tóc - làm thế nầy thì chỉ còn có thể thấy sự chết chóc, tàn lụi. Thế nên nhà thơ vô ưu mới mỉm cười :" Năm, năm nở đúng tiết thu quaGió dịu trăng thanh ý mặn màCười kẻ không hay hoa huyền diệuKhi về, mái tóc giắt đầy hoa "Sư Huyền Quang đã không giới thiệu trí tuệ và sự tỏ ngộ bằng ngôn ngữ kinh viện, không lập luận, không nói triết lý, mà bằng ngôn ngữ thi ca, hình ảnh thi ca. Ở sư cho thấy rằng cái nhìn của bất cứ một thiền sư nào cũng là cái nhìn của một đại thi hào, và cái nhìn của một đại thi hào thì có thể là cái nhìn đạt đạo của một thiền sư. Chỉ thêm vào ngôn ngữ thi ca, thì bất cứ thiền sư nào cũng là nhà thơ lớn cả, và Việt Nam sẽ có vô số thơ, văn rất thiền và rất tuệ, nền văn học Việt Nam sẽ là "vô tỉ"!Đấy là nét thơ rất riêng, rất Phật giáo mà Trúc Lâm tam tổ Huyền Quang đã để lại cho hậu thế.IV. Kết luậnMỗi vị thiền sư lỗi lạc dưới thời Lý, Trần của Việt Nam mang một nét đặc kỳ. Nét đặc kỳ của thiền sư Huyền Quang làm chói lọi thêm rừng thiền Yên Tử.Tuổi trẻ, người rất đổi thông minh, chuyên đường học vấn. Năm 21 tuổi đã đỗ Khôi nguyên. Trải qua 30 năm phục vụ đất nước, kiến thức và kinh nghiệm sống hiểu mình hiểu đời trở nên rất cao vời. Năm 51 tuổi, giác tỉnh lẽ đạo; xuất gia trong hơn 25 năm, nghiên cứu Phật học, hành thiền và sáng tác các công trình Phật học cho đến thời điểm liễu ngộ, kế thừa ngôi vị tổ sư Trúc Lâm Yên Tử, thứ ba. Người trở thành một thiền sư lỗi lạc, đa văn, sành văn học, giỏi thi ca, và là một giáo thọ sư rất mô phạm.Kệ thiền biểu hiện sự chứng đạo của Người được chuyển thành những dòng thơ nhẹ nhàng, giản dị :" Thấy được thi phi cùng một tướng,Ma cung, Phật quốc cũng ngồi chung "Người đã thay thế những công án và những thiền ngữ xa xưa bằng những lời thơ bình dị, dễ dàng như là những dòng văn tả cảnh - qua bài Vịnh Hoa Cúc, Đầu Thu, Đi Thuyền,... -Người tự tại mà nhẹ nhàng đầy nét văn nhân ,thi sĩ.Người thay chiếc gậy thiền của Đức Sơn bằng chiếc sáo tre rất Việt, và thay tiếng hét của Lâm Tế bằng ánh mắt ôn nhu và nụ cười hiền hậu như đã diễn đạt khi người nói :- " Đến chết mà cái nết cũng không chừa " ( với Pháp Loa )và- " Cười kẻ không hay hoa huyền diệuKhi về, mái tóc giắt đầy hoa " ( với phật tử đến chùa )Người kính cẩn trước pháp giới bằng phong thái hồn nhiên :( trong bài Hoa Cúc và Đầu Thu đều có đốt trầm hương )" Vô ưu ngồi ngắm, khói trầm xôngHồn nhiên người với hoa vô biệt "( " Phần hương độc tọa tự vong âuChủ nhân dữ vật hồn vô cạnh " )Người rất sáng giá mà lặng lẽ khiêm tốn :" Đức bạc thẹn mình nối Tổ ĐăngHọc theo Hàn, Thập dứt đa đoanHãy đi với bạn về non vắngRừng núi bao quanh mấy vạn từng "( " Đức bạc thường tàm kế tổ đăngKhông giao Hàn, Thập khởi oan tăngTranh như trục bạn quy sơn khứĐiệp chứng trùng loan vạn vạn tằng " )( VNPGSL, Nguyễn Lang, ..., tr.439)Và lặng lẽ về thiền tịnh ở Côn Sơn bên cạnh một tiểu đồng và một cây sáo, khung cảnh đơn sơ:" Củi hết, lò còn vương khói nhẹSơn đồng hỏi nghĩa một chương kinhTay cầm dùi mõ, tay nâng sáo..."( " Ổi dư cốt đốt độc hoàng hươngKhẩu đáp sơn đồng vấn đoản chươngThủ bả xuy thương hòa mộc đạc..."( VNPGSL,...,tr. 440 )Đến ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất, 1334, người viên tịch. Những vần thiền thi của người đã là những bài kệ giác và là kệ thị tịch không riêng để lại cho các thiền giả, mà còn để lại cho toàn dân Việt trong nền văn học Việt Nam./.
Đời như một áng mây qua
Tình như làn gió cho ta cuốn mình
Nguyễn Đình Vinh
Thảo luận:Huyền Quang
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Góp một số suy nghĩ về thiền sư, thi sĩ Huyền Quang
Sách Vũ Trung Tùy Bút chép:
- "Huyền Quang tên Lý Đạo Tái, là bậc khoa bảng mà bỏ đi tu …Gần đây, ông Nguyễn Hoàn, người cổ đô có soạn bài Huyền Quang hành bằng quốc ngữ, trong đó có nói chuyện nàng Bích. Nhưng chuyện ấy không thấy chép trong sử, ta thường lấy làm ngờ. Còn nhớ, khi mới lên bảy tám tuổi, thường theo bà tiên cung nhân ta sang hầu bà cô họ ngoại …Khi các bà ngồi rỗi nói chuyện, có nói đến nàng Bích, ta mới biết quả có người ấy thật …Sau ông Nhữ Công Chân có câu thơ rằng:
- Giai nhân lạc địa uỷ kim điền
- (Giai nhân đày đọa rụng bông vàng)
Lại có câu:
- Tằng hướng tiêu phòng khoa yểu điệu
- Khước lai sơn tự bạng không thiền
- (Phòng tiêu thuở trước từng khoe đẹp
- Chùa núi sau này tựa cảnh không)
Mục lục |
Tiểu sử
Thiền sư Huyền Quang (Giáp Dần 1254-Giáp Tuất 1334) tên Lý Đạo
Tái, người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện
Gia Lương, tỉnh Hà Bắc. Theo sách Tổ gia thực lục, cha của ông tên Tuệ Tổ, có công đánh Chiêm Thành
nhưng không chịu làm quan, sớm tối chỉ vui thú với sách vở và việc đồng
áng. Mẹ ông là Lê thị(?), người hiền lành. Tương truyền, dung mạo ông
xấu xí lại thêm cảnh nghèo khó, nên ông thường bị người đời hắt hủi, cả
việc đi hỏi vợ nhiều nơi vẫn không thành. Nhờ tư chất thông minh, hiếu
học; năm 20 tuổi, ông đỗ thi hương rồi năm sau đỗ đầu thi hội (theo Đăng
khoa lục, Huyền Quang đỗ tiến sĩ năm Bảo Phù thứ hai, 1274). Đến lúc
ấy, nhiều gia đình mới lân la để gả con, nhưng ông đều từ chối. Ông chua
chát viết:
- Khó khăn thì chẳng ai nhìn
- Đến khi đỗ trạng, trăm nghìn nhân duyên
Kể từ đó, trên dưới 30 năm, ông làm quan tận tụy nơi viện nội Hàn.
Từng phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc, bởi ông thông thạo thư tịch,
giỏi đối đáp, ứng xử… Một lần, ông theo vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phụng Nhãn dự buổi thuyết pháp. Nghe xong, ông chạnh lòng than:
- …Phú qúi vinh hoa thích thú
- Đáng lo như lá vàng mùa thu, mây trắng ngày hè
- Sao ta có thể lưu luyến lâu dài được ?…
Nhờ nhà Trần rất sùng tín đạo Phật, nên sau vài lần dâng biểu xin từ
quan để đi tu, ông được vua chấp thuận. Buổi đầu xuất gia khi đã 51 tuổi
(1305), ông đến học đạo với thiền sư Bảo Phác nơi chùa Lễ Vĩnh. Sau ông
theo Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm là Điều Ngự giác hoàng Trần Nhân Tông
khoảng 2 năm để giúp việc biên soạn kinh sách, được ngài hài lòng khen:
“Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn, khảo đính thì không thể
thêm bớt được một chữ nào nữa”.
Khi Trúc Lâm viên tịch, ông theo Pháp Loa
làm đồ đệ người thầy, cũng là Tổ thứ hai thiền phái, trẻ hơn mình đến
30 tuổi (Pháp Loa sinh năm 1284, mất năm 1330). Sau đó ông được cho về
trụ trì chùa Vân Yên trên đỉnh núi Yên Tử,
nơi phát tích dòng thiền Trúc Lâm. Hằng ngày ông giảng đạo, biên tập
kinh …và gần như không còn liên hệ với chốn quan trường. Nhưng chỉ được
một thời gian, ông xin về chùa Thanh Mai rồi chùa Tư Phúc ở Côn Sơn. Năm
1330, Pháp Loa viên tịch, ông được trao truyền làm Tổ thứ ba dòng thiền
này, sau Trúc Lâm, Pháp Loa. Ông từ giã cõi trần tại Côn Sơn vào ngày
23 th. Giêng năm Giáp Tuất (1334) thọ 81 tuổi, được vua Trần Minh Tông ban thuỵ hiệu: Trúc Lâm đệ tam đại, Tự pháp Huyền Quang tôn giả.
Câu chuyện Huyền Quang với Điểm Bích
Theo sách Tổ gia thực lục, sự việc này xảy ra thời vua Trần Anh Tông.
Một hôm vua hỏi các quan hầu cùng đạo tăng: “Huyền Quang lão sư sống
như tấm gương trong không mờ bụi, thế là dồn lấp tình dục hay không có
dục tình?”. Nho thần Mạc Đỉnh Chi
tâu: “Vẽ hổ chỉ vẽ ngoài da, khó vẽ trong xương, xin hãy cho thử mới
biết…”. Vua nghe theo, liền ngầm cho cho vời cung nhân Điểm Bích, đẹp
người lại thông kinh sử đến dặn dò: “ Vị tăng kia vốn giới hạnh cao
nghiêm, ngươi hãy đến Yên Tử tìm hiểu cho trẫm. Nếu quả vị tăng ấy còn
quyến luyến dục tình thì ngươi hãy tìm cách xin Kim tử bằng vàng, đem về
cho ta…”.
Sau một thời gian xin theo học đạo, Điểm Bích thấy ông giữ giới hạnh
khó dùng sắc đẹp quyến dụ, nàng nảy sinh ra một kế: giả vờ than khóc nói
là con nhà khoa bảng, cha làm quan thu thuế bị cướp sạch bạc tiền. Nếu
không hoàn trả, cả nhà sẽ bị tội nặng. Giàu lòng từ bi, ông lấy Kim tử
do vua ban tặng, trao cho nàng …Lập tức, Điểm Bích trốn về cung tâu dối
với vua, nào là nhà sư ngâm thơ, nào là sư giữ nàng qua đêm như thế nào
(1).. Nghe hết lời kể, vua than: “Việc này nếu quả có thực thì chính ta
là kẻ thả lưới bắt chim, còn nếu không thì cũng không khỏi gieo sự nghi
hoặc …” Sau đó không lâu, vua cho mở đại hội Vô già, thỉnh Huyền Quang
đến chủ lễ. Đoán biết vua và triều thần đang nghi ngờ sự trong sạch của
mình, ông liền lên đàn ngửa mặt rồi niệm chú. Bỗng dưng gió thổi mạnh,
mây kéo đến đầy trời…một hồi các tạp vật trên pháp điện đều bị gió cuốn
sạch…. Thấy pháp hạnh Huyền Quang thấu cả thiên địa, ai nấy đều thất
sắc. Nhà vua lạy tạ lỗi với sư và còn bắt phạt Điểm Bích phải làm kẻ hầu
hạ nơi chùa Cảnh Linh trong cung. Từ đó, ông càng được vua kính trọng,
gọi tôn là Tự Pháp (Nối Đạo).
Theo ý riêng, câu chuyện khá phổ biến này có vài điểm cần lưu ý.
Trước hết tôi xin nói qua về sách Tổ Gia Thực Lục , đây là tác phẩm
khuyết danh, bị lưu lạc qua nhiều thời gian, nhiều địa điểm: sáng tác
vào thời nhà Trần, đến thời nhà Hồ bị giặc Minh cướp mang về Trung Quốc; nửa đầu thế kỷ 15, Lê Quang Bí ( Hoàng giáp năm 1526, nhà Hậu Lê)
đi sứ mới tìm lại được, bèn gửi về cho Nguyễn Bỉnh Khiêm xem. Sau có
người đem ghép chung với truyện Trần Nhân Tông và Pháp Loa, làm ra sách
Tam Tổ thực lục.
Nhận xét, so với 2 phần mà Tổ Gia Thực Lục ghép chung, giá trị lịch
sử của nó kém hơn. Do người viết chỉ trú trọng đến mặt thần bí mà không
để ý tới khía cạnh tư tưởng, yếu lý của Huyền Quang. Điều này phản ảnh
tình trạng suy thoái của Phật Giáo vào cuối thế kỷ XIV, phật tử chỉ biết
thờ cúng cầu nguyện, tin bùa chú…, do chịu ảnh hưởng Mật tông khá nặng.
Và chuyện Điểm Bích , lần đầu tiên được chép trong sách ấy; có lẽ đó
chỉ là điều đơm đặt của giới nho sĩ nhằm hạ uy tín Huyền Quang, gián
tiếp đã kích Phật giáo. Có thể có nhiều lý do, nhưng một phần cũng bởi
ông bỏ Nho theo Phật. Và tôi cũng không loại trừ do lòng đố kỵ của những
người khác phe phái ngay trong thiền môn, bởi ông được các vua Trần tỏ
ra ưu ái, tin cậy; phong làm trụ trì, làm Tổ…
Vì thế, người soạn thực lục không biết dựa vào tư liệu nào hay chỉ
nghe kể, nhưng chắc chắn phải từ những tấm lòng mộ đạo, kính trọng Huyền
Quang, họ mới tô đậm việc “giải oan” mang màu sắc hết sức thần quyền.
Mặt khác, nếu cho việc này là có, sao không thấy sử sách chép và chính Phạm Đình Hổ
cũng đã thú nhận “thường lấy làm ngờ”. Thêm nữa, theo nhiều nguồn, các
chùa chiền thời Trần thường nhiều của cải. Và “kim tử” là tín vật của
vua ban cho, không thể nào Huyền Quang khinh suất, tự ý giao cho người
khác …(2)
Huyền Quang với sự suy thoái của Phật giáo Trúc Lâm
Phật giáo Trúc Lâm là trang sử sáng chói trong lịch sử Phật giáo Việt
Nam. Do các người sáng lập đã cố gắng Việt hoá các yếu lý của thiền
tông từ nhiều nơi khác đến. Không những Phật Giáo Trúc Lâm không còn
những tư tưởng rối rắm, bi quan, thần bí…mà phái này còn làm được vai
trò đoàn kết dân tộc trong 2 cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.
Và Trúc Lâm cũng đã có tác động không nhỏ cho sự phát triển nhiều mặt,
trong đó có nền văn hoá Phật giáo: thơ ca, kiến trúc, đúc tượng, in ấn,
hội họa v v…
Nhưng đáng tiếc, mọi chuyện không suôn sẻ mãi. Vào giữa thế kỷ 14,
bấy giờ tầng lớp ủng hộ Phật Giáo Trúc Lâm là quí tộc nhà Trần đã mất
dần uy lục chính trị và kinh tế. Họ lại thường lợi dụng danh nghĩa tôn
giáo để quyên góp, vơ vét, bắt dân làm nô dịch... Một phần họ làm của
riêng; một phần dùng để xây chùa, đúc tượng và lập vô số điền trang rộng
lớn cho chùa. Đâu chỉ có vậy, số tăng lữ mỗi ngày một đông mà người
thực tu thì quá ít, dẫn đến việc biếng nhác, bè phái, sử dụng bùa chú
…hòng mua danh, trục lơi...
Tất cả đã làm ảnh hưởng đến vai trò, uy tín của đạo; đến sự phát
triển chung của đất nước vừa mới yên bình. Bên cạnh đó, các quan lại
xuất thân từ Nho học, đại diện cho tầng lớp cấp thấp, bắt đầu nắm giữ
các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước. Từ thực trạng vừa nêu sơ
lược, nhiều nhà nho như Mạc Đỉnh Chi, Trương Hán Siêu, Lê Quát...bắt đầu lớn tiếng công kích Phật giao...
Gánh nặng đó, Pháp Loa đã trao lại cho Huyền Quang, một ông già 77
tuổi, tuy có học thức, tài hoa, thông kinh kệ … nhưng không phải là
người thích hợp cho công việc lãnh đạo giáo hội. Vả lại, thời gian ông
cầm đầu chỉ 4 năm ngắn ngủi (1330-1334), nên sự suy thoái của PGTL không
hẳn hoàn toàn do lỗi của ông…(3).
Chú thích:
(1)Bài thơ nôm như sau:
- Vằng vặc trăng mai ánh nước
- Hiu hiu gió trúc ngâm sênh
- Người hoà tươi tốt cảnh hoà lạ,
- Màu Thích ca nào thử hữu tình
So với các bài thơ của Huyền Quang, tôi sẽ trích dẫn ở kỳ sau; bài này ý tứ, ngôn từ kém hẳn. Có thể do người đơm đặt nguỵ tạo.
(2) Trong sách Sơn Cư tạp thuật do Đan Sơn viết vào những năm Nguyễn
Huệ ra Bắc Hà diệt Trịnh (1786-1789), có nhắc lại chuyện nàng Bích này.
Nhưng khác với Tổ Gia thực lục, người viết kết tội Huyền Quang say đắm
sắc dục, làm hỏng đạo: “Sắc dục nơi đâu ngùn ngụt cháy, rừng thiền một
khắc hoá ra tro!”, đủ biết sau hơn 450 năm, chuyện ấy vẫn còn được người
đời bàn tán …
(3) Trong thời kì Pháp Loa đứng đầu giáo hội, nơi đâu cũng có nhiều
chùa tháp được trùng tu, xây dựng mới. Và cứ 3 năm lại có một đợt độ
tăng nhân, mỗi lần không dưới một nghìn người. Chỉ tính riêng PL, tính
đến năm 1332, ông đã độ được 10.500 tăng ni! Rongxanhag 01:35, ngày 26 tháng 4 năm 2007 (UTC)
Góp một số suy nghĩ về thiền sư, thi sĩ Huyền Quang ( phần 2)
.Tư tưởng và tâm trạng của Huyền Quang:
Thật lòng khi viết phần này, tôi băn khoăn rất lâu. Bởi trước tác của
ông còn lưu lại quá ít (1), bởi không ít ý kiến cho rằng Huyền Quang là
người: Tâm không còn phân biệt Ma- Phật , Mê-Ngộ , Thị phi vv...Nghĩa
là lòng đã an tịnh, đã có cái nhìn “vong nhị kiến”...
Nhận xét như thế không phải không có lý, bởi Huyền Quang đã từng bộc lộ qua bài :
Chùa Diên Hựu
- ….Thành ngăn tục luỵ trần không vướng
- Cửa mở vô ưu mắt rộng tầm
- Thấy được thị phi cùng một tướng
- Ma cung, Phật quốc cũng ngồi chung
- (Nguyễn Lang dịch )
Và từ câu chuyện Huyền Quang thăm bệnh Pháp Loa:
“Ngày 3 tháng 3 năm 1330, Pháp Loa lại phát bệnh nặng . Nửa đêm trở
lại thăm thầy , Huyền Quang nói:- Xưa nay các bậc đạt ngộ khi giờ phút
đến, muốn ở lại thì ở, muốn đi cứ ra đi …( cờ gì cứ trăn trở khi viên
tịch ?)
- Pháp Loa nói:-Đi hay ở cũng đều không can hệ gì tớ ai.
- Huyền Quang:-Vậy thì sao?
- Pháp Loa:-Thì …tuỳ xứ tát-bà –ha !(2)
Câu trả lời làm Huyền Quang hả da...” vv…
Nhưng theo tôi, những tư tưởng nêu trên chỉ cho thấy được một khía
cạnh Huyền Quang : có học thức và am tường kinh sách. Vì những lời lẽ ấy
chỉ là những yếu lý cơ bản của triết học thiền tông mà tu sĩ thường
thuộc nằm lòng; chỉ là xu hướng chung của dòng thơ thiền thời Lý Trần ;
mà cụ thể là ở những người đi trước như Tuệ Trung, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông Thí dụ :
- Thân từ vô tướng vốn là không
- Huyễn hoá phân ra thành nhị kiến
- Không tâm, không thị cũng không phi
- Không kiến, chẳng tà cũng chẳng chánh …
- (Tuệ Trung )
- Sinh già bệnh chết
- Là lẽ đương nhiên
- Muốn khỏi bốn bệnh
- Bỏ hết tham luyến…
- (trích Khoá hư lục –Trần Thái Tông )
- Có có không không
- Nhìn trái nhìn phải
- Tra tra xét xét,
- Phố chợ ồn ào
- Có có không không
- Đau buồn thương xót
- Cắt đứt sắn bìm ,
- Đó đây khoái hoạt …
- ( Hữu cú hữu vô – Trần Nhân Tông) vv…
Trở lại vấn đề Huyền Quang, như tôi đã nói, thơ của ông còn lưu lại
quá ít cộng thêm ý tứ tinh tế, thầm kín (thơ thiền thường khó lý giải
rốt ráo)Và trừ một vài bài ta định được mốc thời gian ông viết, số nhiều
còn lại thì không. Thôi thì, tôi tạm dựa vào cái biết được để so sánh,
với lòng mong mỏi được góp chút gì về ông chăng? …
Nhìn lại, suốt những năm tháng của tuổi trẻ, Huyền Quang phải sống
cảnh nghèo khó, thường bị miệt khinh. Đến khi đỗ đạt( Trạng nguyên thứ 6
/47 vị của nước ta ) rồi ra làm quan, chắc gì nơi quan trường nhiều bon
chen danh lợi đó, không làm cho trái tim ông ít nhiều vết xướt . Mặt
khác, biết đâu nhờ “con đường mới”(Phật giáo), HQ có thể lý giải những gì trăn trở, day dứt …nơi lòng mà ông đã không thể tìm được ở Nho giáo.
Có lẽ vì thế khi tuổi đã 51, ông từ quan để tìm đến cửa thiền với tâm
trạng khá hăm hở. Xin trích một đoạn bài phú nôm ông làm khi mới lên
chùa Hoa Yên :
- Buông niềm trần tục
- Náu tới Hoa Yên
- Chim thuỵ dõi tiếng ca chim thuỵ
- Gió tiên đưa đòi bước thần tiên
- Bầu đủng đỉnh giang hoà thế giới
- Giày thong thả dạo khắp sơn xuyên …
- Niết được tính ta nên Bụt thật
- Ngại chi non nước cảnh đường xa
- ( Phú vịnh chùa Hoa yên – Nguyễn Lang dịch )
Đề Đạm Thủy tự
( Đề chùa Đạm Thủy)
Bên đình Đạm Thủy nhiều cỏ nội
Núi quang, mây tạnh, bóng xế tà
Nhân qua con đường vua đi mà vào thiền thất
Giúp nhà chùa đánh chuông và nhặt hoa rơi
Đề động hiên đàn việt giả sơn
( Đề núi non bộ của người đàn việt )
Hoa cây vấn vít nhau trên bộ
Khói lồng trăng, hoa dầm sương lạnh
Từ đây sự lo nghĩ sẽ thanh tao hết trần tục
Do tìm được chỗ gió mát trong sạch gối đầu nghỉ yên
(Nguyễn Đăng Thục dịch )
Vâng. “Giúp nhà chù đánh chuông và nhặt hoa rơi”, “Tìm được chỗ trong
sạch để nghĩ yên”. Những việc làm ấy thật đẹp, thật giản dị. Và có lẽ
chính từ tâm trạng vui thích do không còn bị trói buộc, được sống thật
với chính mình; Huyền Quang đã có cái nhìn rất thiền, rất thi sĩ đối với
thiên nhiên, tạo vật :
Tảo Thu ( Thu sớm )
Hơi mát thâu đêm lọt tới mành
Cây sân xào xạc báo thu thanh
Bên lều quên bẵng hương vừa tắt,
Lưới bủa vầng trăng mấy khóm cành (Nguyễn Đổng Chi dịch )
Hay là :
Chu Trung ( Đi thuyền )
Mênh nông theo gió con thuyền nhỏ
Thu sáng ngời xanh bóng nước , cây
Tiếng sáo thôn chài, lau lách vọng
Trăng lặn lòng sông, móc trăng đầy
Và : Ngọ thụy ( Ngủ trưa)
Mưa tạnh, khe núi tĩnh
Ngủ mát dưới rừng phong
Nhìn lại cõi nhân thế
Mắt mở vẫn say nồng
(Nguyễn Bang dịch )
Bên trong con người yêu mến thiên nhiên, khao khát thanh tịnh ấy, vẫn
không sao che giấu được một trái tim giàu cảm xúc, nặng tình người:
Ai phù lỗ( Thương tên giặc bị bắt )
Lấy máu đề thư, muốn gửi nhau
Cô đơn chiếc nhạn vút mây sầu
Bao nhà ngóng nguyệt đêm nay nhỉ,
Hai chốn cách vời một nỗi đau
(Lịch sử Phật Giáo VN, Viện triết học )
Có lẽ vì vậy trái tim ông rất dễ tổn thương khi bị người đơm đặt, gièm pha (chuyện nàng Bích là một ví dụ):
Cúc hoa (bài 2)
Ruột héo mong gì nước rửa tươi
Vịnh mai trăm mục cũng nhường thôi
Buồn thu, già yếu còn ngâm hão
Vì cúc, tình thơ luống rối bời…
Do muộn phiền quá đỗi bởi những gì đa đoan cứ bám đuổi, dù ông đã vào
chốn thiền môn , cộng thêm ước muốn được tĩnh lặng thường thấy ở tuổi
già. Từ Hoa Yên ông lui về Thanh Mai rồi Tư Phúc ở Côn Sơn hẻo lánh, để
thổn thức với trời cao và vui buồn cùng mai, cúc :
Mai hoa (Hoa mai )
Muốn hỏi trời xanh : Hoa tự đâu
Một mình gội tuyết chốn non sâu
Bẻ về, không để chưng vừa mắt ,
Chỉ mượn xuân này đỡ lão đau …
(Cảm nhận đạo Phật.Phạm Kế)
Cúc Hoa (bài 5)
Người ở trên lầu, hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông
Hồn nhiên người với hoa vô biệt,
Một đoá hoa vừa mới nở tung
(Nguyễn Lang dịch)
Năm 1330, Pháp Loa mất. Ở tuổi 77, ông phải đến nhận danh vị Tổ kế
nghiệp. Tự biết sức mình khó đảm đương trọng trách lớn; ông giao việc
điều hành giáo hội cho Quốc sư An Tâm , rồi một mình quày quả rời nơi đô
hội về lại Côn Sơn, làm nhà ẩn cư cho đến hết đơi..Huyền Quang thổ lộ :
Thạch thất (Nhà đá)
Nửa gian nhà đá, bạn cùng mây
Tấm áo lông thô, lạnh tháng ngày
Sư khểnh giường thiền, kinh trước án
Lò tàn, than lụi, sáng nào hay
(Huệ Chi dịch )
Và:
Nhân sự đề Cứu Lan tự (Nhân có việc, đề ở chùa Cứu Lan )
Đức bạc thẹn mình nối tổ đăng
Học theo Hàn, Thập dứt đa đoan
Hãy đi với bạn về non vắng ,
Rừng núi bao la mấy vạn từng
-Hàn Sơn và Thập Đắc là 2 cao tăng ẩn sĩ đời Đường
(Lược sử Phật Giáo VN-T.T Thích Minh Tuệ )
Nói là “ học dứt đa đoan” hay cũng như bài thơ dưới đây, Huyền Quang nói “quên tất cả” :
Cúc hoa (bài 3)
Quên thân, quên thế, thảy đều quên
Thiền tọa ngồi lâu lạnh thắm giường
Trong núi năm tàn không có lịch
Thấy hoa cúc nở biết Trùng dương
Ta vẫn thấy ở ông một thân phận bị xô đẩy, bị sắp đặt nhầm chổ :
Cúc hoa (bài 4)
Thu về, móc nhẹ , cúc đơm bông
Gió mát trăng thanh dịu nỗi lòng
Vẻ đẹp tinh khôi người chẳng hiểu
Bẻ về cài tóc, đáng cười không ?
(Băng Thanh dịch )
Vâng. Việc đời hay chuyện lòng, đâu phải lúc nào chúng cũng thuận
theo ý muốn; dẫu ông là Trạng nguyên hay vị Tổ, cũng vậy thôi. Vì lẽ đó,
đọc thơ Huyền Quang ta nên chia sẻ cái khao khát, hụt hẩng rồi ngậm
ngùi …của một đời thường luôn mong muốn sống tốt đẹp cho đạo và cho
mình; hơn là vịn vào vai trò, cách hành xử không thể không làm, rồi nhạo
báng hay trách cứ ông...
Trước khi tạm kết bài, xin mời đọc thêm :
Địa lô tức sự (Trước bếp lò tức cảnh )
Củi hết lò còn vương khói nhẹ
Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh
Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo
Thiên hạ cười ta cứ mặc tình … ( Nguyễn Lang dịch )
Và:
Thôi đã theo thiền lòng lặng tắt
Nỉ non tiếng dế vẫn vì ai ?…
(Sơn vũ.Huệ Chi dịch )
Theo tôi, Chỉ ngần ấy câu cũng đủ nói lên quan niệm sống của ông. Đó
tâm trạng của một người luôn mong muốn được sống hồn nhiên, hòa mình
cùng tạo vật. Của một con người muốn thay đổi số phận nhưng lại gặp một
số phận khác cũng không kém não nề...Có thể vì vậy phần lớn thơ ông , ta
dễ dàng bắt gặp nỗi khát khao, sầu tư thầm kín. Càng lạ hơn là ta chỉ
thấy cái “tinh tế , phóng khoáng”của một Lão Trang mà không hề thấy cái
triết lý khá rối rắm, mơ hồ của nhà Phật mà ông đang là người đứng đầu.
Càng không thấy cái thôi thúc muốn bỏ hết tham luyến, muốn “chặt hết sắn
bìm” để dứt niệm, kiến tánh, thành Phật vv...như các thiền sư khác cùng
tác phẩm của họ vào thời Lý Trần …
Và không hiểu sao từ câu “ củi hết lò còn vương khói nhẹ…”, khiến tôi
chạnh nhớ lại câu thơ đã dẫn ở phần I: “Phòng tiêu thưở trước từng khoe
đẹp .Chùa núi sau này tựa cảnh không ” mà thương ông, thương cả nàng
Bích, bởi vì đâu ?… rồi bất giác bồi hồi …
Chú thích phần II
(1)Tác phẩm của Huyền Quang gồm : Chư phẩm kinh, Công văn tập, Phổ
tuệ ngữ lục và tập thơ Ngọc liên tập .Nhưng tất cả đều không còn. Hiện
nay chỉ còn 23 bài thơ chữ Hán và 1 bài phú nôm vịnh chùa Hoa yên (Yên
Tử), được ghi trong Việt Âm thi tập, Trích Diễm thi tập .Tuy Ông là nhà sư , nhưng cũng là người được Lê Qúi Đôn Và Phan Huy Chú khen là “ Ý tinh tế cao siêu”, “Lời bay bướm phóng khoáng.”
(2)“Tuỳ xứ tát- bà- ha”: 2 từ đầu xin tạm hiểu là tuỳ duyên đi đến
nơi nào đó; tát –bà-ha : phiên âm từ tiếng Phạn, nó thường đặt ở câu
cuối niệm và có nghĩa khéo nói như thế
Rongxanhag 05:24, ngày 29 tháng 5 năm 2007 (UTC) Thuydaonguyen (thảo luận) 06:26, ngày 1 tháng 3 năm 2008 (UTC)Thuydaonguyen (thảo luận) 06:32, ngày 1 tháng 3 năm 2008 (UTC)
Huyền Quang
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Huyền Quang (định hướng).
1254-1334, tên thật là Lý Đạo Tái (李道載), người hương Vạn Tải, châu Nam Sách,
lộ Lạng Giang. Nay là làng Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Học
giỏi, đỗ cả thi hương, thi hội. Ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ (trạng nguyên) khoa thi năm 1272?[1] hay 1274?[2] và được bổ làm việc trong Viện Nội Hàn của triều đình, tiếp sư Bắc triều, nổi tiếng văn thơ. Sau này từ chức đi tu, theo Trần Nhân Tông lên Trúc Lâm. Là một Thiền sư Việt Nam, tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử. Ông là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại. Cùng với Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông và Pháp Loa, ông được xem là một Đại thiền sư của Việt Nam và người ta xem ông và hai vị nêu trên ngang hàng với sáu vị tổ của Thiền tông Trung Quốc hoặc 28 vị tổ của Thiền Ấn Độ.Mục lục |
Truyền thuyết
Theo Tam tổ thực lục (三祖實錄), mẹ của Huyền Quang là Lê Thị hay đến chùa Ngọc Hoàng cầu nguyện vì tuổi đã 30 mà chưa có con. Đầu năm Giáp Dần 1254,
vị trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Huệ Nghĩa mơ thấy "các toà trong chùa đèn
chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cương Long Thần la liệt đông
đúc. Đức Phật chỉ Tôn giả A-nan-đà
bảo: 'Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Đông Độ và phải nhớ lại duyên
xưa.'" Năm ấy Lê Thị sinh Huyền Quang. Lớn lên Sư dung mạo dị thường,
làm quan đến chức Hàn Lâm.
Một hôm, Sư cùng vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phượng Nhãn, nghe Thiền sư Pháp Loa
giảng kinh, liền nhớ lại "duyên xưa", xin xuất gia thụ giáo (có tài
liệu nói Sư thụ giáo với Bảo Phác ở chùa Vũ Ninh). Sư được cử làm thị
giả của Trúc Lâm Đầu Đà và được ban pháp hiệu là Huyền Quang.
Sau, Sư theo lời phó chúc của Trúc Lâm trụ trì chùa Vân Yên (nay là chùa Hoa Yên) trên núi Yên Tử. Vì đa văn bác học, tinh thông đạo lí nên tăng chúng đua nhau đến học.
Niên hiệu Đại Khánh thứ 4 (1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Trúc Lâm và tâm kệ. Sau khi Pháp Loa tịch (1330), Sư kế thừa làm Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm nhưng vì tuổi đã cao nên Sư giao phó trách nhiệm lại cho Quốc sư An Tâm.
Sư đến trụ trì Thanh Mai Sơn sáu năm, sau dời sang Côn Sơn giáo hoá. Ngày 23 tháng 1 năm Giáp Tuất (1334), Sư viên tịch, thọ 80 tuổi. Vua Trần Minh Tông sắc thuỵ là Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.
Tác phẩm
Sau đây là một vài bài thơ tiêu biểu của Sư:
菊花 忘身忘世已都忘。 坐久簫然一榻涼 歲晚山中無歷日。 菊花開處即重陽 |
Cúc hoa Vong thân vong thế dĩ đô vong Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật Cúc hoa khai xứ tức trùng dương |
|
- (theo Thơ văn Lý-Trần)
花在中庭人在樓。 焚香獨坐自忘憂 主人與物渾無競。 花向群芳出一頭 |
Hoa tại trung đình, nhân tại lâu Phần hương độc toạ tự vong ưu Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu. |
|
- (Bản dịch của Nguyễn Lang)
地爐即事 煨餘榾柮獨焚香。 口答山童問短章 手把吹商和木鐸。 從來人笑老僧忙 |
Địa lô tức sự Ổi dư cốt đốt độc phần hương Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương Thủ bả xuy thương hoà mộc đạc Tòng lai nhân tiếu lão tăng mang |
|
- (Bản dịch của Nguyễn Lang)
|
|
- (Bản dịch của Phan Võ)
Tác phẩm của Sư:
- Ngọc tiên tập
- Chư phẩm kinh
- Công văn tập
- Phổ huệ ngữ lục
Tài liệu tham khảo
- Thích Thanh Từ: Thiền sư Việt Nam, TP HCM 1995.
- Nguyễn Huệ Chi (chủ biên): Thơ văn Lý-Trần, tập II, quyển thượng, Hà Nội 1988.
- Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận I-III, Hà Nội 1992.
Liên kết ngoài
Ghi chú
- ^ Đại Việt Sử ký toàn thư không thấy có ghi chép về việc này nhưng Danh sách trạng nguyên lại ghi ông đỗ năm Nguyên Phong thứ hai (1252) đời Trần Thái Tông, một điều vô lý do ông chưa sinh ra mà đã đỗ trạng nguyên.
- ^ Văn miếu Bắc Ninh: Văn bia 1, tuy nhiên điều này cũng khó tin do trong Đại Việt Sử ký toàn thư chép việc Đào Tiêu đỗ đầu khoa thi 1275, nghĩa là chỉ 1 năm sau.
SỰ ĐAN XEN CÁC KHUYNH HƯỚNG THẨM MỸ TRONG THƠ HUYỀN QUANG
Nghiên cứu trường hợp sáu bài thơ vịnh cúc
Nguyễn Kim Sơn
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Huyền Quang ( 1254-1334 ) hiện còn để lại một di sản văn chương vào loại khiêm tốn, với một bài phú Nôm Vịnh Hoa Yên tự phú và
vài chục bài thơ chữ Hán, nhưng nếu nhìn trong tương quan với phần
nhiều các tác gia thời kỳ Lý Trần thường chỉ còn lại vài ba bài, thì đó
lại là một gia tài không nhỏ. Trong số 23 bài thơ chữ Hán, người viết
đặc biệt hứng thú, quan tâm tới một chùm thơ vịnh hoa cúc gồm 6 bài.
Sáu bài thơ vịnh hoa cúc được ghi số từ kỳ nhất ( bài thứ nhất) tới kỳ lục(
bài thứ sáu), đọc kỹ các bài thơ thấy chúng được viết vào các thời
gian khác nhau. Các bài thơ này được tập hợp lại thành một chùm thơ chỉ
vì cùng một đề tài vịnh hoa cúc, ngoài ra không thấy có mối liên hệ lô
gic nào giữa chúng. Trình tự các bài thơ có thể đảo đi mà không ảnh
hưởng gì tới nội dung của các bài. Vì vậy trong khi trình bày bài viết,
chúng tôi có thể để ý tới bài này trước hoặc bài kia trước mà không tuân
theo trình tự như trong các tuyển thơ văn .
1. Bắt đầu bằng câu chuyện của thơ vịnh vật
Thơ
vịnh vật là một tiểu loại của thơ đề vịnh. Đối tượng của nó là vật, và
cả sự vật. Nó có thể là những vật cụ thể như các cây, con, tùng trúc
cúc mai, long ly quy phượng, hay đóa hồng, con kiến, con cóc con muỗi,
hay sự vật sự việc như gió mưa sấm chớp trăng sao... Người ta thường căn
cứ, dựa vào những đặc điểm, đặc tính tự nhiên nổi bật, dễ nhận thấy và
được đông đảo mọi người trong cộng đồng nào đó thừa nhận, rồi nhân đặc
điểm đó người ta gửi gắm một triết lý, tư tưởng hay tình cảm nào đó.
Đặc tính nổi bật của vật chỉ là chỗ dựa, là phương tiện, là một loại
phù hiệu để thể hiện cho một tinh thần của chủ thể thẩm mỹ- tức người
vịnh- thi nhân. Những đặc tính tự nhiên của vật là cái cớ không thể
thiếu để triển khai tư tưởng, bày tỏ tình cảm, triết lý, nhưng nếu chỉ
có thể hiện đặc tính của vật không thì nó lại chỉ là những câu đố về sự
vật hay những bài đồng dao câu hát của trẻ con, dạy trẻ con về sự vật,
sự việc, nó chưa phải là thơ vịnh vật. Do vậy có thể tạm định nghĩa về
thơ vịnh vật: Thơ vịnh vật là tiểu loại của thơ đề vịnh, dùng sự vật
làm đối tượng trung tâm của tác phẩm để thông qua những đặc điểm, tính
chất của vật mà gửi gắm nỗi niềm. Thơ vịnh vật phản ánh tâm trạng, mang
đậm dấu ấn cá nhân nhưng cũng đi theo thị hiếu thẩm mỹ của thời đại. Nó là thơ trữ tình và cũng thuộc phạm vi "thi ngôn chí".
Do
chỗ mượn vật để nói chí, để triết lý, trữ tình, vì vậy thơ vịnh vật một
cách tự nhiên luôn hướng tới kiến tạo những tầng thứ ngữ nghĩa ngoài
ngôn từ. Tỷ hứng được huy động làm thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu của loại hình thơ đề vịnh nói chung và thơ vịnh vật nói riêng.
Thơ
vịnh vật xuất hiện rất phổ biến trong hầu hết thi tập của các nhà nho,
chẳng hạn như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm ... Thơ
vịnh vật xuất hiện trong thơ trung đại Việt Nam không thật sớm. Quan sát
thơ của các thiền sư thời Lý Trần chúng ta thấy hầu như chưa thấy xuất
hiện một số lượng đáng kể loại thơ vịnh vật với đặc trưng tiêu biểu của
thể tài. Một chùm thơ vịnh vật cùng chủ đề, tập trung tới 6 bài của
Huyền Quang là trường hợp sớm nhất. Vấn đề trở nên hấp dẫn chính là ở
chỗ: Tại sao thơ các thiền sư đời Lý, Trần hầu như không vịnh vật
nhiều? Tại sao tới Huyền Quang mới xuất hiện một cách tập trung như
vậy? Giữa đặc trưng của thơ vịnh vật và sự xuất hiện muộn của tiểu loại
này có gì tương liên với nhau? Những bài vịnh vật của Huyền Quang đã
tiêu biểu cho tiểu loại này về các tiêu chí thể tài hay chưa? Sự xuất
hiện loại hình thơ vịnh vật đó có ý nghĩa gì trong lịch sử văn học ?
Quan
sát 6 bài thơ vịnh cúc của Huyền Quang ta thấy, có mấy bài thực sự
tiêu biểu cho đặc trưng thể tài, như bài số 1, số 4 và bài số 6. Các bài
này đều trước sau ca vịnh tỷ hứng, ký thác trên cơ sở đặc tính của hoa
cúc. Các bài số 2, số 3 và 5 cũng có thể coi là thơ vịnh vật ở một vài
phương diện, nhưng không phải là những bài chuẩn theo các tiêu chí.
Những bài này về mặt tư tưởng, tình cảm, triết lý, của người sáng tạo
gửi gắm thì rất phong phú, nhưng lại hầu như không dựa theo đặc tính
của sự vật để bày tỏ. Bông cúc trong ba bài thơ này cũng chỉ là một sự
vật được xuất hiện, được nhắc tới như những sự vật khác có trong những
bài thơ đó mà thôi.
Trước
Huyền Quang, các sự vật cũng đã được nhắc nhiều trong thơ, nhưng được
nói tới theo cách, chẳng hạn nhành mai trong bài kệ của Mãn Giác:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Đây
không phải là bài thơ vịnh mai, vì nó không ca vịnh tỷ hứng, ký thác
trên cơ sở đặc tính tự nhiên của bông mai. Nhành mai của sự ngộ đạo bất
sinh bất diệt của Mãn Giác không giống với nhành mai trắng tinh khiết nở
trong tiết xuân sớm, giữa tuyết trắng và băng giá biểu thị cho sự thanh
khiết tinh thần và nhân cách trong sáng của sĩ phu thường gặp trong thơ
vịnh mai.
Trong thơ của Trần Nhân Tông, ta cũng thấy một bông hồng:
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.
( Thuở trẻ chưa từng thấu hiểu lẽ sắc không,
Mỗi mùa xuân sang, lòng rộn ràng cùng trăm hoa.
Như nay đã thấy hiểu bộ mặt thực của chúa xuân,
Ngồi trên bồ đoàn mà tĩnh lặng nhìn những cánh hồng rơi.)
Bài
này cũng không phải là bài thơ vịnh hồng. Cả hai bài trên nếu thay
nhành mai bằng nhánh cây khác, thay bông hồng bằng bông hoa khác ta vẫn
thấy không hề ảnh hưởng tới ý nghĩa của bài thơ, không ảnh hưởng tới sự
thể hiện thiền ý sâu sắc của bài thơ.
Những bài kiểu như bài Vịnh mai của Trần Nhân Tông là khá hiếm hoi:
Thiết đảm thạch can lăng hiểu tuyết,
Cảo quần luyện thuế nhạ đông phong.
Nhân gian kiện tố Hán Văn đế,
Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông.
Dịch nghĩa:
Gan dạ, sắt đá vượt lên tuyết buổi sớm,
Quần lụa mộc, khăn lụa trắng đón gió đông.
( Như) Hán Văn Đế là người tiết kiệm, mộc mạc trong nhân gian,
( Như) Đường Thái Tông là bậc anh hùng trong thiên hạ.
Bài
này rõ ràng có khí khái hơi khác với tinh thần tùy duyên nhậm vận, một
loại cảm hứng và một triết lý thiền tiêu biểu và nổi bật trong thơ Trần
Nhân Tông, nó thiên về thơ ngôn chí kiểu Nho gia. Bài thơ thể hiện chí
hướng muốn có được những phẩm chất hơn người, mong làm nên sự nghiếp đế
vương như Hán Văn Đế, Đường Thái Tông. Bài này có thể ví như một bông
hoa lạ báo hiệu sự nảy nở và bắt đầu của loại thơ vịnh vật.
Dường
như, với tính chất tiêu biểu là thơ ngôn chí, thơ vịnh vật chưa có chỗ
đứng và thực sự không thật thích hợp với thơ của các Thiền sư. Việc diễn
tả những thiền lý thiền thú cũng cần nhắc tới sự vật, cây cỏ, muông
thú, nhưng đó không phải là thơ vịnh về chúng. Vịnh vật để ngôn chí, để
trữ phát tình cảm là câu chuyện có thiên hướng dành cho các nhà Nho[1].
Những đặc tính tự nhiên của vật được mượn để diễn tả về một thế giới
tinh thần, phẩm chất đạo đức, tài năng của chủ thể, thì thế giới tinh
thần phải mang tính thực tại, là hữu, là động... chứ không phải tinh
thần thinh không tĩnh tịch, không phải là trạng thái tinh thần siêu việt
thị phi, danh lợi, động tĩnh...Ngôn chí không phải là chuyện của Thiến
sư.
Huyền Quang có hẳn tới 6 bài thơ vịnh về hoa cúc, như vậy là đã "có chuyện" gì đó diễn ra trong lịch sử văn học.
2. Siêu việt và thực tại - sự đan xen các khuynh hướng thẩm mỹ
Mùa
thu theo thời tiết của Trung Quốc, ở vùng phía Bắc và Trung nguyên( nơi
mà nền thi ca chữ Hán phát triển và ảnh hưởng ra toàn cõi Đông á) là
mùa khắc nghiệt, trời bắt đầu lạnh, khô và nhiều sương. Thời tiết này
không phải là thuận lợi cho cây cỏ phát triển, phần lớn các loài cây cỏ
hoa lá đều nở hoa vào tiết xuât, mùa hạ phát triển, mùa thu trái chín và
mùa đông cây nghỉ ngơi tránh rét, ủ mầm cho một mùa mới (xuân sinh hạ
trưởng thu liễm đông tàng). Mùa thu ở Việt Nam tuy không khắc nghiệt
bằng mùa thu ở miền Bắc Trung Quốc nhưng cũng là mùa không thuận cho cây
trổ hoa. Một bông cúc tự nhiên thường nở vào mùa thu, đúng vào thời
tiết các loài không thể nở. Đặc tính tự nhiên này của hoa cúc là nguồn
gợi tứ cho thi nhân, là chất liệu để thi nhân gửi gắm, ẩn dụ cho những
phẩm chất vượt trội của tinh thần người quân tử. Trong tinh thần của thi
nhân xưa, hoa cúc nở vào mùa thu là sự hiện hữu sinh động cho sức mạnh
tinh thần, do kết quả của công phu rèn luyện. Nó thể hiện cốt cách vượt
trội và đạo đức thanh khiết. Đặc điểm tự nhiên này của bông cúc theo
cách nhìn của nhà nho, nó được nhân hóa để làm biểu tượng cho sức mạnh
tinh thần và đạo đức, sự ưu trội của riêng một nhóm nhỏ kẻ sĩ. Trong
những bài thơ đề vịnh của nhà nho nói chung, bông cúc hoàn toàn hiện
diện với những mục đích ký thác tỷ dụ như vậy. Chẳng hạn bài thơ Nôm Cúc của Nguyễn Trãi:
Nào hoa chẳng bén khí dầm hâm,
Có mấy bầu sương nhụy mới đâm.
Trùng cửu chớ hiềm thu đã muộn,
Cho hay thu muộn tiết càng thơm
Nhà
Nho coi bông cúc nở trong sương cũng giống như người quân tử tu dưỡng
đạo đức, cốt cách, tinh thần. Khó khăn gian khổ là điều kiện rèn luyện
họ, là cơ hội để họ thể hiện những phẩm chất riêng có của mình. Cái
đẹp của hình tượng bông cúc trong thơ vịnh của nhà nho là cái đẹp của
tinh thần nội tại, của những phẩm chất đạo đức và tài năng vượt trội,
của nhân vi, của sự cố gắng, cái đẹp đó mang tính thực tại, thực hữu.
Với
các bài thơ vịnh của Huyền Quang, trước hết xét 3 bài thơ mà theo tôi
là tiêu biểu cho các tiêu chí của thơ vịnh trước, rồi sau sẽ xét tới 3
bài còn lại:
Cúc hoa- kỳ nhất
Phiên âm
Tùng thanh Tưởng Hủ tiên sinh kính,
Mai cảnh Tây Hồ xử sĩ gia.
Nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp,
Cố viên tuỳ xứ thổ hoàng hoa.
Mai cảnh Tây Hồ xử sĩ gia.
Nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp,
Cố viên tuỳ xứ thổ hoàng hoa.
Dịch nghĩa[2]
Tiếng thông reo ngõ nhà tiên sinh Tưởng Hủ, [3]
Cảnh hoa mai ở nhà xử sĩ Tây hồ.[4]
Nghĩa khí khác nhau, khó có thể hòa hợp bừa bãi,
Vườn cũ hoa cúc đã tùy chỗ thích hợp của nó mà nở vàng khắp nơi.
Cây
tùng ngõ nhà Tưởng Hủ và hàng mai nhà Hàn Thế Trung đều là những giống
cao quý cả, nó được nhắc đến cùng với phẩm chất thanh cao, ẩn cư cầu chí
của chủ nhân chúng. Bông cúc của Huyền Quang nở không cốt khoe đức thi
tài mà trong vườn xưa, tùy nơi thích hợp của nó mà khoe sắc. Hai chữ tùy xứ
hướng người ta cảm nhận về bông cúc tùy duyên, chỗ nào gặp duyên thì
mọc hữu duyên thì nở, vậy thôi. Sự khác biệt với cây tùng cây mai của
hai nhà ở chỗ không mục đích đặt sẵn, không chủ ý để tượng trưng. Nghĩa khí khác nhau không thể hòa hợp cẩu thả được,
vừa thể hiện thiền ý về một bông cúc tùy duyên, không lệ thuộc vào một
tinh thần nào, một mong muốn hay ký ngụ nào, nhưng lại đồng thời cũng
kín đáo thể hiện một tinh thần tự tín và cốt cách. Bài này vừa có thiền
tứ lại vừa có dáng dấp kiểu loại thơ ngôn chí thể hiện cái đẹp kiểu
thi ca nhà Nho, mặc dù chưa thực tiêu biểu.
Cúc hoa bài 4:
Phiên âm
Niên niên hoà lộ hướng thu khai,
Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài.
Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ,
Mãn đầu tuỳ đáo sáp quy lai[5].
Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài.
Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ,
Mãn đầu tuỳ đáo sáp quy lai[5].
Dịch nghĩa:
Cúc hoa bài 4
Hàng năm, hoa cúc nở cùng sương thu,
Trăng thanh gió mát thỏa mãn tấc lòng.
Cười thay cho kẻ không hiểu lẽ vi diệu của hoa,
Ngắt hoa dắt đầy đầu đi về nhà.
Bông
cúc trong bài này thực sự là một bông cúc khác lạ, độc đáo. Đặc tính tự
nhiên của loài cúc được khai thác, được khám phá, để thể hiện cho một
loại tinh thần chủ thể thẩm mỹ giống như thông lệ các bài thơ vịnh vật
để ngôn chí khác. Nhưng bông cúc này nở trong tiết thu chẳng phải là kết
quả của bất kỳ một cố gắng nào. Nó cũng không nhằm thể hiện một đặc
tính vượt trội nào. Giống như muôn loài nở trong tiết xuân vì thấy xuân
ấm áp sung sướng. Bông cúc nở trong thu cũng nở vì nó thấy thỏa mãn và
chỉ thỏa mãn trong tiết thu. Trăng thanh gió mát nó thấy thỏa mãn tấc
lòng. Không cố gắng, không có gì trái, không có gì phân biệt. Nó nở
không phải để chứng minh hay thể hiện phẩm chất đặc biệt nào hết, nó
cũng giống như muôn loài trong tiết xuân mà thôi. Cái "diệu" ( vi diệu)
của hoa chính là ở chỗ không gì khác đó. Cái không gì khác đó lại chính
là cái vi diệu của nó. Cười thay cho kẻ nào không hiểu được lẽ tự nhiên
của nó, ngắt lấy những bông hoa dắt đầy đầu trở về để đổi lấy nụ cười
cho giai nhân. Điều đó cũng có nghĩa là cười thay cho những kẻ không
hiểu lẽ tùy duyên tùy tục, lấy cái tiêu chuẩn công lợi của thế tục để
ứng dụng đối đãi với hoa kia. Bông cúc thực sự là bông cúc nhậm vận tùy
duyên, bông cúc nhiệm tự nhiên, bất nhị bất đãi. Một hình tượng
bông cúc mang cái đẹp của sự thanh thoát, nhậm vận của tinh thần chủ thể
mang đậm chất thiền và cũng đồng thời là cái đẹp tự nhiên nhi nhiên
theo tinh thần của Đạo gia.
Bài
này nổi bật cảm hứng và thẩm mỹ của Thiền, nhưng cũng có dấu ấn của Đạo
gia xét về tinh thần tùy tục tùy thời, nhiệm tự nhiên, vô biệt, còn
cách thể hiện, cách thức tìm công cụ để "ngoại hóa" cho một tâm linh
tự lạc thì lại là cách của Nho gia.
Chúng ta quan sát tiếp bài thứ 6:
Phiên âm
Xuân lai hoàng bạch các phương phi,
Ái diễm lân hương diệc tự thì.
Biến giới phồn hoa toàn truỵ địa,
Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly.
Ái diễm lân hương diệc tự thì.
Biến giới phồn hoa toàn truỵ địa,
Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly.
Dịch nghĩa
Xuân đến muôn loài hoa trắng vàng đều ngát hương,
Lòng yêu hương tiếc sắc cũng đồng thời xuất hiện[6].
Đến khi các loài hoa tươi tốt khác tất cả đều đã tàn rụng,
Nhan sắc tàn phai sau cùng là bông hoa ở dậu phía đông[7].
Cái đẹp của hình tượng hoa cúc không hẳn phải là cái đẹp thanh tĩnh của thiền, nhưng lại cũng không phải hoàn toàn không có. " Xuân tới muôn loài hoa trắng vàng đều ngát hương; Lòng yêu hương tiếc sắc cũng đồng thời xuất hiện". " Ái diễm lân hương" hay nói cách khác " thương hoa tiếc nguyệt"cũng
là chuyện của thế tục . Nó cũng như chuyện của xuân tới trăm hoa nở,
xuân đi trăm hoa tàn. Nó là xu thời, là thói thường, là chuyện của kẻ
chưa ngộ đạo. Nó cũng là thói của kẻ " bất minh hoa diệu xứ" trong bài
trên. Hai câu đầu rất gần với bài của Trần Nhân Tông: " Niên thiếu hà tằng liễu sắc không; Nhất xuân tâm tại bách hoa trung".
Thương hoa tiếc nguyệt vốn là chuyện của thế nhân. Người ta đâu có biết
hoa nguyệt là chuyện không chân thực, không vững bền. Cái đẹp cùng
hương thơm của hoa một chiều mất đi sinh ra lòng tiếc thương buồn bã.
Nếu ngộ đạo, biết được cái chân thực của tạo vật, thì hoa nở hoa tàn
không làm sinh lòng ái hoặc lân nữa. Không nên tựa
vào cái giả tướng, không nên cho nó là chân thực. Trong cái giả tướng,
sắc tướng trình diện ra, cần nhìn thấy cái bản chân của đạo, cái bản
chân đó không theo con mắt nhìn của thế tục mà thấy được.
Biến giới phồn hoa toàn trụy địa;
Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly.
( Đến khi tất thảy mọi loài hoa rụng hết,
Mới hay bông cúc trước dậu tàn úa sau cùng).
Hai
câu cuối này thể hiện khá nhiều ý tứ. Trong cái đa biến, sắc tướng tìm
thấy cái trường tồn bất biết. Trong cái giả tướng tìm cái thực tướng.
Hai câu này hợp cùng ý tứ hai câu trên tạo thành một Thiền tứ tuy không
triệt để và tiêu biểu như Trần Nhân Tông : " Như kim khám phá đông hoàng diện; Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng).
Toàn
bài và đặc biệt là hai câu cuối cũng lại khiến người ta dễ cảm nhận hơn
tới một cái đẹp khác, cái đẹp của bông cúc vượt trội với năng lượng
sống hơn hẳn mọi loài. Nó được nhìn giống như nhà Nho nhìn cây tùng : " tuế hàn nhiên hậu tri tùng bách nhi hậu điêu"(sau
năm rét mới hay tùng bách tàn úa sau cùng). Đời phàm thường như những
bông hoa khoe sắc trong xuân rồi tàn úa mau chóng. Chỉ có bông cúc cốt
cách người quân tử vẫn còn lại trên dậu đông khi mọi loài đã tàn úa.
Nó là tư thế xuất quần bạt tụy của nhân cách lý tưởng. Không chỉ có
vậy, việc nhắc tới hoa cúc kèm theo điển cố về Đào Uyên Minh " Thái cúc đông ly hạ, Du nhiên kiến Nam sơn",
lại còn cho thấy cả cái du nhiên tự tại của người ẩn sĩ bảo tồn thiên
tính bất biết, con người trọn vẹn với bản tính tự nhiên hoang sơ mà cầu
lạc theo tinh thần của Đạo gia. Bông cúc vẫn còn và còn mãi trên dậu
nhà Đào Tiềm và những ẩn sĩ thi nhân khác thời kỳ trung cổ để biểu thị
cho tinh thần thiên tính tự nhiên bất biến, không nổi chìm theo thế tục,
không a dua theo thế nhân, thanh khiết, cốt cách, bền bỉ và ưu trội.
Một
bài thơ nổi ở nơi tầng trực diện cái đẹp của thơ vịnh cúc kiểu Nhà Nho,
quán xuyến bởi triết lý Thiền và ẩn tàng cái đẹp tự nhiên thiên thành
của Lão Trang.
Qua
3 bài tiêu biểu cho tinh thần và tiêu chí của thơ vịnh ở trên, có thể
thấy Huyền Quang đã dùng thi pháp của thơ vịnh, một loại thơ ngôn chí
tiêu biểu để thể hiện một đời sống tinh thần phong phú, một thế giới
thẩm mỹ phức hợp đan xen, đa chiều. Trong đó, người đọc có thể nhận thấy
sự kế tục tiếp nối, hòa dòng vào cảm hứng tùy duyên nhậm vận, an thời
xử thuận đã xuất hiện trong Thiền thời Lý, cực thịnh trong thơ Tuệ
Trung thượng sĩ, Trần Nhân Tông đời Trần. Giữa cái đẹp tùy duyên, nhậm
vận, lại đã thấy xen vào đó hình tượng bông cúc với cái đẹp tinh thần
đạo đức ưu trội, cái đẹp tu dưỡng rèn luyện, nhân vi, thực tại, thực
hữu, cảm xúc của nhà Nho. Tâm tính học của Nho gia dần đan xen vào
cùng thiền ý thiền tứ ở nơi người tu hành. Chúng ta sẽ quay lại vấn đề
này sau khi quan sát tiếp 3 bài còn lại trong chùm thơ.
Bài thứ 2:
Cúc hoa- kỳ nhị
Đại giang vô mộng hoán khô tràng,
Bách vịnh mai hoa nhượng hảo trang.
Lão khứ sầu thu ngâm vị ổn,
Thi biều thực vị cúc hoa mang.
Bách vịnh mai hoa nhượng hảo trang.
Lão khứ sầu thu ngâm vị ổn,
Thi biều thực vị cúc hoa mang.
Dịch nghĩa:
Không mơ lấy nước sông lớn rửa tấc lòng khô héo,
Hoa mai từng được trăm bài thơ vịnh phải nhường vẻ đẹp.
Tuổi già lại buồn vì thu, làm thơ vẫn chưa xong,
Nhưng túi thơ thì thực vì hoa cúc mà bận rộn.
Bài thứ 3
Phiên âm
Vương thân, vương thế, dĩ đô vương,
Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức Trùng Dương.
Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức Trùng Dương.
Dịch nghĩa
Quên thân, quên đời, tất cả đều đã quên,
Ngồi lâu trong im ắng, cả một giường lạnh.
Cuối năm trong núi không có lịch,
Khi hoa cúc nở, ấy là tiết trùng dương.
Bài thứ 5
Hoa tại trung đình nhân tại lâu,
Phần hương độc toạ tự vong ưu.
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh,
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.
Phần hương độc toạ tự vong ưu.
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh,
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.
Dịch nghĩa
Hoa ở giữa sân, người trong lầu,
Đốt hương, ngồi một mình tựa như quên hết sầu lo.
Người và vật hồn nhiên không tranh cạnh,
Hoa hướng về phía mọi loài trổ một bông
Cả
ba bài thơ cùng tô đậm một hình tượng người ẩn sĩ. Trong thơ Thiền
không có hình tượng người ẩn sĩ tiêu biểu, thực thụ. Xuất gia tu thiền
trong thực tế đã vượt ra ngoài cả hai phạm trù xuất và xử. Thiền sư nằm
ngoài cả chuyện ẩn và hiện, hành và tàng. Ẩn sĩ cơ bản thuộc phạm trù
của Nho gia và Đạo gia. Thực tế thì khi nhà Nho ẩn dật họ cũng tìm tới
phương cách ứng xử của Đạo gia. Nói tới chữ ẩn, Đạo gia vẫn là nét văn
hóa, nét thẩm mỹ tiêu biểu nhất.
Trong ba bài thơ trên, một chữ QUÊN ( vong ) quán xuyến và nổi bật. Bài 3 nói về trạng thái TỌA VONG.[8] Quên mình, quên đời tất thảy đều quên hết. Quên ngoài kia là thời nào triều đại nào giống như người lạc vào Đào hoa nguyên. Một thứ thời gian không thời gian ([9]).
Mà thực chất cũng không phải không thời gian, mà là thời gian tâm lý.
Tâm lý của người ẩn dật không trông ngóng, không chờ đợi, tiễn đưa. Nó
là nhịp thời gian tự nhiên. Thời gian không bị
co vào hay giãn ra bởi một trạng thái tinh thần nào. Không có dấu ấn
tâm lý vì đã quên cả rồi, quên thân mình quên đời rồi. Con người đạt tới
tọa vong tức đã đồng nhất với đại tự nhiên, cùng một nhịp với tự nhiên.
Vì vậy không cần lịch nữa, hoa cúc nở thì ờ ờ dường như mùa thu đã tới,
đã là tiết trùng dương. Trạng thái thời gian tự nhiên như vậy phản ánh
tâm cảnh của người ẩn sĩ thanh thản vô ưu. Bài 5 cũng nói về việc ngồi
quên, nói về " Tọa", nhưng không phải tọa thiền, mà là tọa vong, tức
ngồi quên, quên ưu tư, quên sầu muộn đi. Có thể nói tinh thần chung, cái
đẹp của hình tượng thơ trong ba bài trên là cái đẹp tự nhiên, thoát ly
khỏi đời sống xã hội, ưu hoạn của cuộc đời. Ảnh hưởng của tư tưởng và
tinh thần thẩm mỹ của Đạo gia là nổi bật nhất.
Cũng trong bài 5 tác giả nói tới tư tưởng bất tranh, bất nhị: " chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh"(
người và vật hồn nhiên không tranh cạnh, trở thành nhất thể không phân
biệt). Đó cũng là cảnh giới chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ hợp làm
một, nội ngoại, chủ khách thể đều tiêu vong. Đây lại là một trạng
thái tinh thần "vật ngã lưỡng vong"( người và vật đều bị quên), "chủ khách lưỡng vong"(
chủ thể và khách thể đều bị quên) phổ biến trong cả Thiền và Đạo. Nhưng
cái lưỡng vong và tự nhiên hồn thành đó lại không triệt để bởi nó đột
nhiên, đột xuất "lồi" ra một bông hoa vượt trội xuất quần ở câu thơ cuối
cùng: "Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu". Chỉ một câu thơ
cuối cùng thôi, cũng đủ đưa bài thơ trở lại thế giới của thơ ngôn chí.
Lời đề, thực và luận là của ông tu sĩ thiền viện và đạo quán nhưng câu
cuối cùng lại là của một ông nhà Nho chỉ về phía bản thân mình mà nói
lời kết bao trùm.
Thế
giới tinh thần và thế giới thẩm mỹ khó phân cắt nhất chính là bài thứ
2. Hình tượng một ông già hồn hậu, đắc đạo an nhiên. Cuộc đời thật bận
rộn, nhưng là bận rộn với những vần thơ về hoa cúc. "Thi biều thực vị cúc hoa mang."
( Bầu thơ thực vì bông cúc mà trở nên bận rộn). Bài này nếu để lẫn vào
thơ của các nhà nho có ý hướng ẩn dật thời sau thực cũng khó tìm ra sự
khác biệt. Hình tượng cúc trong bài khá giống cách nói của các nhà nho
khi muốn khoe rằng "việc đời ông đã điếc hai tai". Nó cũng thống nhất
với hình tượng con người quên đời quên người ở bài 3. Cái bận rộn của
nhà thơ cũng giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm bận "cày mây cuốc nguyệt gánh yên hà"
vậy. Đọc cả ba bài thơ, người ta vẫn cảm nhận thấy một thế giới tinh
thần thực tại, hiện hữu, trần thế, nó hướng vào thể hiện một thế giới
nội tại nhiều tâm sự và thoáng chút buồn bã cô đơn. Ông nói tới việc
quên mình, quên đời điều đó chứng tỏ ông có nhiều cái cần quên. Ông quên
mình, quên đời, nhưng tâm chưa lạnh giá, tức cái ẩn theo lối của Đạo
gia chưa hết mực. Ở đó có cái thanh lặng của cõi Thiền, nhưng lại khác
cái vui của cõi lạc đạo. Tinh thần của một nhà Nho ẩn dật đã rất nổi bật
trong thơ ông.
Nhìn
lại cả chùm thơ đề vịnh hoa cúc, ta thấy về hình thức và đặc trưng thể
tài, lần đầu tiên trong văn học trung đại xuất hiện một chùm thơ khá
tiêu biểu cho thể loại đề vịnh như vậy. Điều đó cũng có nghĩa con đường
của thơ ngôn chí đã mở. Ông đã dùng phương cách tư duy nghệ thuật của nhà Nho
để thể hiện một thế giới tinh thần, một thế giới thẩm mỹ đa dạng. Trong
thế giới thẩm mỹ đó vừa có cái thanh tĩnh siêu thoát, tự nhiên nhậm vận
của thiền, tiếp nối dòng mạch của văn chương Lý Trần, lại vừa có cái tự
nhiên thiên thành, thanh tĩnh tự tại của Lão Trang và yếu tố thực tại,
nội tại của tinh thần tôi luyện, cốt cách thanh cao kiểu của nhà Nho.
Thơ ông vừa có cái thường của văn chương đời Trần, vừa có cái biến của
buổi tinh thần nhà Nho ngày một mạnh lên.
Lê Quý Đôn khi bàn về những thi phẩm Huyền Quang đã từng nói thơ ấy "không có khẩu khí nhà chùa",
điều đó là có lý, nhưng cũng lại chỉ đúng một phần. Cái gọi là khẩu khí
nhà chùa thể hiện ở Thiền ngữ và Thiền lý thể trực diện và đậm đặc
trong thi ca như thơ các thiền sư đời Lý thì quả không thể tìm thấy
trong thơ Huyền Quang. Tuy nhiên, chất Thiền lại đằm sâu hơn trong tinh
thần. Nó hòa vào những cách cảm, cách nghĩ về cuộc đời, về thiên nhiên,
con người. Ba cảnh giới tinh thần của Thiền, Lão Trang và Nho gia cùng
tồn tại ở một chừng mực không mâu thuẫn, không bị phá vỡ bởi sự nổi trội
thực sự của một cực nào.
3. Nhìn rộng ra các sáng tác khác của Huyền Quang
Sự
đan xen phức hợp các loại hình tượng, các khuynh hướng thẩm mỹ như vừa
nói tới trong chùm thơ vịnh hoa cúc không phải là cá biệt trong toàn
bộ sáng tác của ông. Nhìn các sáng tác khác ta cũng bắt gặp sự đan xen
với quy mô giữa các bài với nhau. Với bài Diên Hựu tự:
Phiên âm
Thượng phương thu dạ nhất chung lan,
Nguyệt sắc như ba phong thụ đan.
Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn.
Vạn duyên bất nhiễu thành già tục,
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.
Nguyệt sắc như ba phong thụ đan.
Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn.
Vạn duyên bất nhiễu thành già tục,
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.
Dịch nghĩa:
Chùa Diên Hựu
Đêm thu, trên chùa thoảng tiếng chuông ngân,
Ánh trăng như sóng, cây phong lá đỏ.
Bóng " xi vẫn" nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương vuông lạnh giá,
Hai ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt.
Muôn vàn nhân duyên không vương vấn là bức thành che niềm tục,
Không lo lắng chút gì nên tầm mắt mở rộng.
Hiểu thấu ý nghĩa của thuyết phải trái đều như nhau,
Thì xem cung ma có khác gì nước Phật.
Bài
này thể hiện triết lý Thiền quan trọng được truyền thừa trong Trúc lâm
: bản tâm tự tại thanh tĩnh là gốc của giải thoát và tư tưởng bất nhị
kiến là con đường để đạt tới trí huệ đích thực. Nếu chỉ đọc bài này, có
thể thấy cái cảnh giới của tâm không thanh tĩnh siêu thoát của thiền sư
đắc đạo. Nhưng nếu đọc sang bài khác, bài Ai Phù Lỗ:
Ai phù lỗ
Khóa huyết thư thành dục ký âm,
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm.
Kỷ gia sầu đối kim tiêu nguyệt.
Lưỡng xứ mang nhiên nhất chủng tâm.
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm.
Kỷ gia sầu đối kim tiêu nguyệt.
Lưỡng xứ mang nhiên nhất chủng tâm.
Thương tên bị giặc bắt
Chích máu viết thư muốn gửi tin tức,
Cánh nhạn lạnh lùng bay lẻ loi ngoài quan ải đầy mây.
Cánh nhạn lạnh lùng bay lẻ loi ngoài quan ải đầy mây.
Bao nhiêu nhà buồn ngắm bóng trăng đêm nay,
Đôi nơi xa cách nhưng cùng một lòng thương nhớ.
Ta
lại thấy một cõi lòng khác hẳn, nếu cho đó là tâm Bồ tát từ bi bao dung
cũng đúng, nhưng trước hết đó vẫn là tấm lòng dễ rung động, dễ cảm
thông, cảm thời, cảm người, đồng điệu cùng người. Đây là con người nhạy
cảm, dễ buồn dễ vui, tâm này là tâm động buồn vui với những nỗi đời trần
thế. Nó theo dòng mạch của Thi Thánh Đỗ Phủ chứ không phải theo lối của
Vương Duy. Thế nhưng chúng lại cùng tồn tại, cùng biểu thị bởi một con
người. Đây có thể xem là một trạng thái đan xen phức hợp nhiều trạng
thái tinh thần, nhiều khuynh hướng thẩm mỹ. Nó hoàn toàn phù hợp với
tình trạng đan xen hòa hợp trong những bài thơ vịnh hoa cúc đã được nói
tới ở trên. Có người gọi nó là trạng thái mâu thuẫn ([10]). Tôi cho rằng đó là sự đan xen, sự phức hợp chứ không phải là mâu thuẫn.
Lời kết
Các
sáng tác thơ của Huyền Quang phản ánh rất rõ hiện trạng của đời sống
tinh thần tầng lớp trí thức, của các quan niệm thẩm mỹ, các thể tài văn
học, giai đoạn giữa và cuối Trần. Nó đánh dấu sự bắt đầu quá trình
chuyển giao giữa hai thời đại, thời đại Phật giáo sang thời đại Nho
giáo, giữa văn chương Phật giáo và văn chương Nho giáo thế tục. Những
tác gia văn học xuất hiện trong khoảng thời gian này vừa mang những
đặc trưng của văn chương Phật giáo đờiTrần, vừa nảy nở những đặc điểm,
những cảm xúc, những khuynh hướng và những đặc trưng thẩm mỹ của văn học
nhà Nho. Đồng thời lạicũng có rất đậm tinh thần của Lão Trang chen vào.
Các yếu tố này cùng đan xen, tới mức thật khó có thể phân cắt chúng đâu
là Nho đâu là Thiền, đâu là Đạo. Khi chúng cùng tồn tại trong một tinh
thần của chủ thể, có lúc nó thể hiện ra bằng một hình tượng bao chứa
tất cả, nhưng cũng tùy thời tùy cảnh nó thể hiện ra có thiên về phía này
hay đậm về phía khác. Cũng dễ nhận ra là cả ba đặc điểm của văn chương
tính theo Tam giáo dung hợp trong một hiện tượng văn học thì đương nhiên
chúng không còn ở trạng thái tiêu biểu đặc trưng của mỗi loại.
Nhìn
từ phương diện tư duy nghệ thuật và hình thức thể hiện, Huyền Quang
không còn dùng những bài kệ để thuyết giáo như các thiền sư đời Lý, cũng
không có những bài thơ đầy Thiền ngữ hoặc triết lý Thiền như Tuệ trung
Thượng sĩ hay Trần Nhân Tông. Chất Thiền bàng bạc còn lại của ông thể
hiện chủ yếu ở cái thiền thú, thiền cảnh. Yếu tố trữ tình trong thơ ông
đã rất tiêu biểu, rất đậm nét. Những bài thơ đề vịnh hoa cúc của ông
cho thấy loại hình thơ ngôn chí, cảm hoài theo phong cách nhà nho đã
được ông vận dụng khá phổ biến. Loại thơ ngôn chí đề vịnh được ông dùng
chuyển tải, thể hiện mỹ cảnh của cả Thiền- Đạo - Nho.
Sự
tích hợp Tam giáo trong một con người đương nhiên sẽ không diễn ra mâu
thuẫn. Trong từng cảnh huống khác nhau, nó sẽ thể hiện thiên về một phía
nào đó. Xét về thể thì nó chiết chung không cực đoan về phía nào để
cùng tồn tại. Xét về dụng thì tùy thời tùy cảnh tùy tình mà thể hiện
thiên về một hướng nào đó. Có lúc tâm thanh tĩnh thể hiện ra bằng hình
tượng siêu trần thoát tục, tự tại. Có lúc thể hiện bằng cái tâm tự ngã ý
thức, tự ngã hoàn thiện, tự ngã tự tôn... theo cách của Nho gia. Xu
hướng chung rõ ràng là yếu tố Nho gia lớn dần và là xu hướng vận động
của thời đại. Sự chuyển giao mô hình tác gia văn học từ quý tộc thiền sư
sang kẻ sĩ Nho học là xu hướng không phải chỉ do sự phán đoán dựa trên
thân phận và ứng xử xã hội, mà trước hết nhìn thấy từ chính các góc độ
tư duy nghệ thuật và góc độ thẩm mỹ của văn chương.
Nhiều
người cùng cảm nhận thấy thơ của Huyền Quang bao chứa những nỗi buồn
bàng bạc và có người cho rằng đó là những băn khoăn, phân vân giằng xé,
mâu thuẫn đầy uẩn khúc và tóm lại là những niềm xao động trước cuộc đời[11].
Người viết bài này không hẳn tán thành cách lý giải và đánh giá đó.
Không thấy chỗ nào là giằng xé, uẩn khúc trong cõi lòng tác giả cả. Nó
chỉ ở mức độ thoảng một nỗi buồn. Cái buồn bàng bạc trong thơ. Có lẽ đó
chỉ là sự gia tăng yếu tố thực tại, những tình cảm chân thực tràn ngập
nhân tình nhân tính chứa đầy trong thơ. Cõi thẩm mỹ và thế giới thi ca
của nhà Nho thể hiện nhiều hơn, điều đó cũng đồng nghĩa với sự bộc lộ
nhiều hơn cái ưu thời, cảm thời, cảm khái, dễ xúc động. Tâm ông là tâm
đa cảm, đem cái tâm đó để thể hiện Thiền tứ Thiền ý, chứ không phải tâm
không vô sắc tướng. Ông cũng đi tìm sự thanh tĩnh trong đời, nhưng âm
thanh của cuộc sống vang vọng đầy trong thơ ông. Những âm thanh của cuộc
sống trong thơ có lúc như đợt sóng triều lấn lướt tràn qua tâm Thiền,
nhưng cũng có lúc những âm thanh cuộc sống thực đó bị đẩy xa, chỉ còn
lại cái trong trẻo thanh lắng. Cái buồn trong thơ ông chỉ ở mức đó mà
thôi.
Sự
đan xen các đặc trưng thẩm mỹ trong thơ của Huyền Quang với xu hướng
gia tăng yếu tố thực tại, yếu tố trữ tình, yếu tố triết lý, ngôn chí,
cảm hoài đánh dấu sự gia tăng dần những đặc tính của văn học nhà Nho và
sự chuyển biến những đặc tính và cách thể hiện của văn học Phật giáo.
Sự xuất hiện của văn chương nhà Nho không phải đợi tới khi có tầng lớp
Nho sĩ đông đảo thế kỷ XV, nó đã thấp thoáng trong thơ của Trần Nhân
Tông và đã đậm ở Huyền Quang. Sự nghiệp văn học của Huyền Quang có vai
trò như một dấu chuyển quan trọng giữa hai thời đại văn học.
Hà Nội giữa tết Kỷ Sửu, xuân 2009
Thư mục tài liệu tham khảo chính
- Nhiều tác giả: Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần. NXB KHXH, H.1981
- Nhiều tác giả: Thiền học thời Trần. NXB Tôn[12] giáo, 2003.
- Nguyễn Hùng Hậu: Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam. NXB KHXH, H.1997
- Nguyễn Duy Hinh: Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam. NXB Hội nhà văn Việt Nam, 1999
- Nguyễn Phạm Hùng: Văn học Lý - Trần nhìn từ thể loại. NXB GD, H.1996.
- Nguyễn Phạm Hùng: Thơ thiền Việt Nam - Những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật. NXB ĐHQG, H.1998
- Nguyễn Phạm Hùng: Các khuynh hướng văn học thời Lý Trần- NXB ĐHQG, HN. 2008.
- Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần. Tập I. NXB KHXH, H.1977
- Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần. Tập III. NXB KHXH, H.1978
- Viện Văn học: Thơ văn Lý - Trần. Tập II. Quyển thượng. NXB KHXH, H.1989
- Trần Đình Sử: Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, NXB GD, 1999
- Bùi Duy Tân: khảo luận dòng văn học trung đại Việt Nam. NXB ĐHQG, H.2005
- Nguyễn Đăng Thục: Thiền học Việt Nam. NXB Thuận Hóa, 1997
- Nguyễn Đăng Thục: Thơ Thiền Việt Nam. NXB Thuận Hoá, 1997
- Ngô Tất Tố: Văn học đời Trần Việt Nam. NXB Mai Lĩnh, H.1942
- Phan Cẩm Thượng: Bút pháp nghệ thuật Phật giáo. NXB Mỹ Thuật, 1996
- Nguyễn Duy Hinh: Yên Tử - Vua Trần - Trúc Lâm. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2, H.1977
- Nguyễn Duy Hinh: Tìm hiểu ý nghĩa xã hội của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần. TM.217
- Nguyễn Duy Hinh: Phật giáo với văn học Việt Nam. TCVH, số 4, 1992.
- Trần Thị Băng Thanh: Thử phân tích hai mạch cảm hứng trong dòng văn học mang dấu ấn Phật giáo thời trung đại. TCVH, số 4. H.1992
- Trần Thị Băng Thanh: Những nghĩ suy từ văn học trung đại- KHXH, HN 1999.
- Đoàn Thị Thu Vân: Một vài nhận xét về ngôn ngữ thơ Thiền Lý - Trần. TCVH, số 2, H.1992
- Đoàn Thị Thu Vân: Quan niệm con người trong thơ Thiền Lý - Trần. TCVH, số 3, H.1993
- Tầm Vu: Tìm hiểu đặc điểm của tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong thời đại Lý Trần qua tác phẩm văn học. TCVH, Số 2, H.1972
Chú thích:
[1]
Đỗ Khắc Chung ( ? - 1330), một nhà Nho có tên tự là Cúc Ẩn, có hai bài
thơ vịnh cúc, những bài của ông khá tiêu biểu cho loại thơ vịnh vật, cho
loại thơ ngôn chí, ông là người cùng thời với Huyền Quang. Điều này sẽ
góp phần củng cố cho nhận định của chúng tôi ở cuối bài viết về việc
xuất hiện thơ vịnh vật theo hướng thơ ngôn chí là dấu hiệu của sự gia
tăng tính chất và đặc trưng thẩm mỹ của văn học nhà Nho giai đoạn cuối
Trần.
[2] Các bài thơ của Huyền Quang được trích dẫn trong bài viết đều cơ bản dựa theo phần chữ Hán và dịch nghĩa trong Thơ văn Lý Trần Tập II, Q thượng, tuy nhiên có nhiều chỗ người viết có điều chỉnh theo ý hiểu của mình.
[3] Một danh sĩ đời Hán, khi Vương Mãng cướp ngôi, ông cáo quan về quê. Ông nổi tiếng là kẻ sĩ cao khiết.
[4]
Xử sĩ Tây hồ tức Hàn Thế Trung đời Tống, tự là Lương Thần, một người có
nhiều võ công. Trong cuộc chiến tranh với nhà Kim, thấy Tần Cối chủ
hòa, triều đình nhu nhược, ông từ quan, mang rượu cưỡi lừa đi ngao du ở
vùng Tây hồ để khuây khỏa. Sau khi chết được ban tự là Trung Vũ.
[5]
Nhà thơ Đỗ Mục đời Đường có một người bạn tên là Trân, vợ anh ta rất
nghiêm nghị, ba năm không cười một lần. Trân đem chuyện phàn nàn với
bạn. Các bạn ông bày cho một kế: nhân tiết trùng dương đi chơi núi, khi
về thì hái cúc dắt đầy đầu về làm cho vợ thấy ngộ nghĩnh mà phải bật
cười. Lần ấy quả nhiên vợ Trân cười rất vui vẻ.
[6] Câu này trong Thơ văn Lý Trần Tập II, Q thượng dịch là : "Đúng thì, vẻ đẹp đáng yêu, hương thơm đáng chuộng đều giống nhau", người viết hiểu theo một ý hoàn toàn khác.
[7] Bông hoa ở dậu phía đông tức chỉ hoa cúc. Câu thơ lấy điển từ câu thơ của Đào Uyên Minh: Thái cúc đong ly hạ, du nhiên kiến Nam sơn.
[8] Tọa vong: Phép tu tâm của Đạo gia và Đạo giáo.
[9] Xem : Trần Đình Sử- Thi pháp văn học trung đại
[10] Xem Nguyễn Phạm Hùng - Các khuynh hướng văn học thời Lý Trần- Huyền Quang và niềm xao động trước cuộc đời- tr 108- 112. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội- HN 2008.
[11] Xem Nguyễn Phạm Hùng- đã dẫn.
Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử (1912–1940) tên thật Nguyễn Trọng Trí, tên thánh là Pierre, sinh ở làng Lệ Mỹ, huyện Đồng Lộc, Tỉnh Đồng Hới (nay là Quảng Bình) trong một gia đình công giáo nghèo, cha mất sớm. Thuở nhỏ sống và học tiểu học ở Quy Nhơn, học trung học ở Huế, sau làn ở Sở Đạc Điền, bị thôi việc vì đau ốm. 1934-1935 theo Thúc Tề vào Sài Gòn làm báo (viết báo Công luận, phụ trách trang văn báo Sài Gòn), về sau lại trở ra Quy Nhơn. 1936 bị mắc bệnh phong, phải vào nhà thương Quy Nhơn và qua đời ở đó.
Hàn Mặc Tử làm thơ sớm, 14 tuổi đã làm thơ Đường luật đăng báo với bút danh Minh Duệ Thị. 1930 đoạt giải nhất trong cuộc thi thơ do một Thi xã tổ chức. Cùng Chế Lan Viên lập trường thơ Loạn, tuyên ngôn là bài Tựa cho tập "Điêu tàn" của Chế Lan Viên. Với các bút danh Phong Trần, Lệ Thanh và cuối cùng là Hàn Mặc Tử, đăng bài trên các báo Phụ nữ tân văn, Tiếng dân, Công luận, Tân thời, Đông Dương tạp chí, Người mới, Trong khuê phòng, Sài Gòn, v.v... Sinh thời Hàn Mặc Tử mới xuất bản được Gái quê (1936).
Tác phẩm: Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Đau thương (còn gọi là Thơ điên, gồm các phần: Hương thơm, Mật đắng, Máu cuồng, Hồn điên), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên (gồm 2 vở kịch thơ: Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội (viết dở) và một số bài thơ lẻ), Chơi giữa mùa trăng (thơ, văn xuôi).
Thế giới thơ Hàn Mặc Tử khá phức tạp, trong khoảng hơn 10 năm Hàn Mặc Tử đi từ thơ luật Đường cổ điển qua lãng mạn đến ít nhiều tượng trưng, siêu thực. Tập "Gái quê" và một số bài trong "Đau thương" cảm xúc trong trẻo, lời thơ nhẹ nhàng, tứ thơ bình đị, tình ý nồng nàn rạo rực, nhưng càng về sau này thơ càng kinh dị, huyền bí và đượm màu sắc tôn giáo. Những đau đớn về thể xác về linh hồn để lại những dấu tích rõ rệt trong tác phẩm.
Nguồn: Từ điển văn hoá Việt Nam, NXB Văn Hoá, 1993
1. Đêm khuya tự tình với sông Hương 7. Hồn lìa khỏi xác 13. Say máu ngà 2. Bức thư xanh 8. Một cõi quên 14. Siêu thoát 3. Biết anh 9. Này đây lời ngọc song song 15. Tự thuật 4. Chùa hoang 10. Nước mây 16. Thương 5. Em đau 11. Nhớ Trường Xuyên 17. Vịnh lầu ông Hoàng 6. Em sắp lấy chồng 12. Rụng rồi 18. Vớt hồn
1. Đà Lạt trăng mờ 7. Sáng trăng 13. Đây thôn Vĩ Dạ 2. Tối tân hôn 8. Say nắng 14. Ghen 3. Huyền ảo 9. Thời gian 15. Lưu luyến 4. Mùa xuân chín 10. Bắt chước 16. Trăng vàng trăng ngọc 5. Thi sĩ Chàm 11. Cao hứng 6. Mơ hoa 12. Chuỗi cười
1. Những giọt lệ 5. Khói hương tan 9. Dấu tích 2. Cuối thu 6. Đôi ta 10. Gửi anh 3. Thao thức 7. Sầu vạn cổ 4. Hãy nhập hồn em 8. Muôn năm sầu thảm
1. Trường tương tư 7. Rượt trăng 13. Ước ao 2. Hồn là ai 8. Trăng tự tử 14. Cô liêu 3. Biển hồn ta 9. Chơi trên trăng 15. Người ngọc 4. Sáng láng 10. Một miệng trăng 16. Cô gái đồng trinh 5. Ngủ với trăng 11. Rướm máu 17. Ngoài vũ trụ 6. Say trăng 12. Trút linh hồn
1. Đàn ngọc 3. Lòng anh 5. Thắm thiết 2. Đánh lừa 4. Thầm lặng
1. Nỗi buồn vô duyên 3. Duyên kỳ ngộ 2. Tiêu sầu 4. Quần tiên hội
1. Đời phiêu lãng 9. Một đêm nói chuyện với gái quê 17. Sượng sùng 2. Âm thầm 10. Mất duyên 18. Tôi không muốn gặp 3. Bẽn lẽn 11. Mơ 19. Tình quê 4. Duyên muộn 12. Nụ cười 20. Tình thu 5. Em lấy chồng 13. Nắng tươi 21. Tiếng vang 6. Gái quê 14. Nhớ chăng 22. Trái mùa 7. Hái dâu 15. Nhớ nhung 23. Uống trăng 8. Lòng quê 16. Quả dưa
1. Đàn nguyệt 13. Chơi thuyền gặp mưa 25. Thức khuya (Đêm không ngủ) 2. Đêm trăng 14. Chuyến đò ngang 26. Thuật hoài 3. Đi thuyền 15. Gái ở chùa 27. Trồng hoa cúc 4. Bán túi thơ 16. Giang hồ nhớ mẹ 28. Trả lời người rao bán thơ 5. Bán túi thơ (tự hoạ) 17. Hồn cúc 29. Trả lời người rao bán thơ (tự hoạ) 6. Bút thần khai 18. Khuê phụ thán 30. Tuồng đời 7. Bước giang hồ 19. Núi vọng phu 31. Vô đề 8. Buồn thu 20. Ngâm vịnh (I) 32. Vịnh hoa cúc 9. Ca dao 21. Ngâm vịnh (II) 33. Vội vàng chi lắm 10. Cửa sổ đêm khuya 22. Ngâm vịnh (III) 34. Xuân hứng 11. Cảm tác 23. Sầu xuân 12. Chùa ông núi Phù Cát 24. Thanh nhàn
1. Vầng trăng 5. Cưới xuân, cưới vợ 9. Trường thọ 2. Ưng trăng 6. Buồn ở đây 10. Nhạc 3. Tình hoa 7. Sao, vàng sao (Đừng cho lòng bay xa) 11. Hương 4. Mơ duyên 8. Nói tiên tri 12. Tài hoa
1. Ra đời | 7. Ta nhớ mình xa (Một nửa trăng) | 13. Bến Hàn Giang |
2. Say thơ | 8. Nhớ thương | 14. Ave Maria |
3. Đêm xuân cầu nguyện | 9. Say chết đêm nay | 15. Phan Thiết! Phan Thiết! |
4. Nguồn thơm | 10. Lang thang | 16. Hãy đón hồn anh |
5. Điềm lạ | 11. Anh điên | |
6. Xuân đầu tiên | 12. Em điên |
Hoa Cúc Trong Thi Ca
Cô Gái và Hoa Cúc Vàng - tranh Dương Bích Liên
Hoa Cúc Trong Thi Ca
Hoa là ngôn ngữ chân thành nhất của tình yêu, hoa vô
tư bộc lộ những nỗi niềm thầm kín,thăm thẳm từ đáy con tim chân chính,
khi ngôn từ đã không diễn tả được nỗi lòng tha thiết thì hoa sẽ thốt
thành lời (When words escape, flowers speak- Bruce W. Currie ), hoa sẽ
nói hộ những gì mà tình nhân khó nói ... Đời người như một bông hoa mà
tình yêu như mật ngọt nhựa sống tuôn tràn (Life is the flower for which
love is the honey-Victor Hugo). Hoa là những biểu tượng đặc trưng của
thiên nhiên ban cho con người, đó là tình yêu của tạo hóa dành cho chúng
ta trong đời sống (Flowers are the beautiful hieroglyphics of nature by
which she indicates how much she loves us-Johann Von Goerthe). Hoa là
đại sứ của tình yêu, hoa đã đem lại những thông điệp làm tươi mát tâm
hồn.
Ngôn ngữ các loài hoa đã có từ ngàn xưa, được diễn đạt
trong nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới . Mỗi loài hoa như muốn
biểu tượng một ý tình, một nỗi niềm riêng mang ... khi nhịp đập con tim
biết ngân vang ngàn cung điệu .
Mỗi một con người có niềm vui, sở thích riêng về một
loài hoa nào đó . Người xưa có Lâm Bô với hoa mai, Khuất Nguyên với hoa
lan, Thôi Hộ với hoa đào, và Đào Tiềm với hoa cúc như người bạn tâm giao
tri kỷ . Một Cao Bá Quát thì "Nhất sinh đê thủ bái mai hoa" (cả đời chỉ cúi mình trước hoa mai), hoặc một thi sĩ tây phương nào đó chỉ xin được làm hoa cúc trắng "I'd choose to be a daisy" :
I'd choose to be a daisy
If I might be a flower
Closing my petals softly
At twilight's quiet hour
And waking in the morning
When fall the early dew
To welcome Heaven's bright sunshine
And Heaven's bright tear-drops too.
Anonymous Author
Closing my petals softly
At twilight's quiet hour
And waking in the morning
When fall the early dew
To welcome Heaven's bright sunshine
And Heaven's bright tear-drops too.
Anonymous Author
Xin được làm cúc trắng
Nếu tôi hóa kiếp đời hoa
Xin làm cúc trắng thướt tha dịu mềm
Trầm tư cảnh vắng chiều êm
Dịu dàng khép cánh màn đêm thẫn thờ
Vầng dương chợt động cơn mơ
Ánh mai hé mở như chờ đợi hoa
Lung linh những hạt sương sa
Cùng tia nắng mới chan hòa niềm vui
Bỗng dưng xao xuyến ngậm ngùi
Hồn hoa thổn thức khung trời lệ rơi...
(Hải Đà phỏng dịch)
Nếu tôi hóa kiếp đời hoa
Xin làm cúc trắng thướt tha dịu mềm
Trầm tư cảnh vắng chiều êm
Dịu dàng khép cánh màn đêm thẫn thờ
Vầng dương chợt động cơn mơ
Ánh mai hé mở như chờ đợi hoa
Lung linh những hạt sương sa
Cùng tia nắng mới chan hòa niềm vui
Bỗng dưng xao xuyến ngậm ngùi
Hồn hoa thổn thức khung trời lệ rơi...
(Hải Đà phỏng dịch)
Hoa Cúc trắng là loài hoa nhận được nhiều sự chiêm
ngưỡng của các nhà thơ. Theo truyền thuyết, bông hoa nhỏ bé này có nguồn
gốc từ Belides, một trong các nữ thần chăm sóc các khu rừng. Một hôm,
khi Belides đang nhảy múa với người yêu của mình là Ephigeus, cô đã lọt
vào sự chú ý của Vertumrus, nam thần cai quản các vườn cây. Để bảo vệ cô
khỏi sự săn đuổi này, chúa của loài hoa là Flora đã biến cô thành một
đóa Cúc trắng. Có một nguồn gốc khác mang nhiều vẻ thần thoại hơn: Hoa
Cúc trắng đã được gieo trồng lần đầu tiên trên ngôi mộ một hài nhi bởi
những đôi tay mềm mại của các thiên thần nhỏ bé. Tên tiếng Anh của loài
hoa này có nguồn gốc từ ngữ Saxon, có nghĩa là "con mắt ban ngày" (day's eye), có lẽ vì hoa nở vào lúc sáng sớm và khép lại vào lúc chiều tà. (Sưu Tầm)
Khi mùa hạ đã đi qua, lá thôi xanh, hoa hết thắm, mùa
thu đến chơi vơi, lá tàn khô héo rụng, cành cây trơ trụi, khu vườn ảm
đạm thê lương, chợt như bừng sức sống, khi những cụm hoa cúc vàng, nữ
chúa của mùa thu (The autumn's queen Chrysanthemum) bắt đầu hé nhụy khai
hoa "cúc hoa xoè cánh nở bung" …để tô điểm cho khung trời thu hiu hắt buồn :
As we watch the summer days depart
And the painted leaves in silence fall,
And the vines are dead upon the wall;
A dreamy sadness fills each heart,
Our garden seems a dreary place,
No brilliant flowers its borders grace,
Save in a sheltered nook apart,
Where gay beneath the autumn sun
Blooms our own Chrysanthemum.
Chrysanthemum (Hattie L. Knapp)
And the painted leaves in silence fall,
And the vines are dead upon the wall;
A dreamy sadness fills each heart,
Our garden seems a dreary place,
No brilliant flowers its borders grace,
Save in a sheltered nook apart,
Where gay beneath the autumn sun
Blooms our own Chrysanthemum.
Chrysanthemum (Hattie L. Knapp)
Lặng nhìn mùa hạ qua mau
Không gian quạnh vắng lá sầu nhẹ rơi
Cành nho héo rũ tường vôi
Trái tim mơ mộng chơi vơi nỗi buồn
Màu thê lương phủ kín vườn
Hoa thôi sắc thắm bờ mương hàng rào
Xa nơi xó xỉnh đồi cao
Trời thu rực rỡ vui chào ánh dương
Cúc hoa xoè cánh nở bung …
Hải Đà phỏng dịch
Không gian quạnh vắng lá sầu nhẹ rơi
Cành nho héo rũ tường vôi
Trái tim mơ mộng chơi vơi nỗi buồn
Màu thê lương phủ kín vườn
Hoa thôi sắc thắm bờ mương hàng rào
Xa nơi xó xỉnh đồi cao
Trời thu rực rỡ vui chào ánh dương
Cúc hoa xoè cánh nở bung …
Hải Đà phỏng dịch
Yosa Buson, một thi sĩ Nhật Bản trong bài thơ HaiKu, đã phải thốt lên rằng:
Trước nhành hoa cúc trắng
Ngỡ ngàng cái kéo ngập ngừng thôi
Trong phút giây bất chợt
(vì không nỡ phải phủ phàng cắt rời hoa, bắt hoa phải lìa cành mãi mãi)
Ngỡ ngàng cái kéo ngập ngừng thôi
Trong phút giây bất chợt
(vì không nỡ phải phủ phàng cắt rời hoa, bắt hoa phải lìa cành mãi mãi)
Before the white chrysanthemum
the scissors hesitate
a moment.
(by Yosa Buson)
the scissors hesitate
a moment.
(by Yosa Buson)
Hoa cúc nở giữa vườn thu đã gợi muôn niềm thi hứng cho
tao nhân mặc khách muôn phương trên thế giới . Thi sĩ Dora Read Goodale
trong một ngày thu ấm, khi diễn tả loài hoa cúc có tên là "Asters", mà người ta thường gọi là hoa Cúc tây, hay là hoa sao, có tên gọi bắt nguồn từ chữ Hy Lạp "Aster",
có nghĩa là ngôi sao. Người ta nói nó là tượng trưng cho sự "chín chắn"
vì nó nở hoa vào đầu mùa thu khi mà đa số các loài hoa khác đã tàn. Cúc
Tây được đem từ Trung Quốc vào châu Âu năm 1730 bởi một nhà truyền giáo
người Pháp, và qua nhiều kỹ thuật cấy ghép khoa học tài tình, nên ngày
nay loài hoa trắng như tuyết này đã rất phong phú và đa dạng chủng loại,
nên Cúc tây mang thêm ý nghĩa cho "tình yêu muôn sắc muôn màu".
The Autumn wood the aster knows,
The empty nest, the wind that grieves,
The sunlight breaking thro' the shade,
The squirrel chattering overhead,
The timid rabbits lighter tread
Among the rustling leaves.
Asters in the Cofrin Arboretum (Dora Read Goodale)
The empty nest, the wind that grieves,
The sunlight breaking thro' the shade,
The squirrel chattering overhead,
The timid rabbits lighter tread
Among the rustling leaves.
Asters in the Cofrin Arboretum (Dora Read Goodale)
Cúc hoa cảm cảnh rừng thu
Quạnh hiu tổ trống, vi vu gió sầu
Ánh dương thơ thới ửng màu
Tung tăng sóc nhảy trên đầu líu lo
Rụt rè thỏ bước nhởn nhơ
Dẫm chân khua tiếng lá khô xạc xào
Hải Đà phỏng dịch
Quạnh hiu tổ trống, vi vu gió sầu
Ánh dương thơ thới ửng màu
Tung tăng sóc nhảy trên đầu líu lo
Rụt rè thỏ bước nhởn nhơ
Dẫm chân khua tiếng lá khô xạc xào
Hải Đà phỏng dịch
Hoa cúc là một thứ hoa gần gũi với người phương Đông.
Người Việt Nam chúng ta, cũng như người Trung Quốc phần đông đều thích
trồng hoa cúc. Nhắc đến hoa cúc trong Đường Thi là người ta nhớ đến thi
sĩ Đào Tiềm đời Tấn "Tam kính tựu hoang, Tùng cúc do tồn" (Đường
ra lối nhỏ vườn hoang , Chen nhau tùng cúc xếp hàng đợi đây - HĐ)...Hoa
Cúc biểu tượng cho tinh thần thanh cao của kẻ sĩ muốn lánh xa vòng tục
lụy . Một loài hoa "diệp bất ly thân" (lá không rời khỏi cành dù tàn khô
héo rũ). "Cúc ngạo hàn sương", cúc vẫn hiên ngang ngạo nghễ đâm
hoa kết nhánh mặc cho sương tuyết lạnh giá bao trùm, mặc cho khí thời
khắc nghiệt vây quanh, cúc vẫn mang nét điềm đạm ung dung, cúc vẫn vương
mình đứng thẳng giữa phong trần, thách thức với bao nỗi đoạn trường
gian truân của thế sự nhân tình: "Tiếu ngạo hàn sương phô cốt cách, Khai nhan diệu sắc kháng thu thâm" - Hải Đà (Sương gió dãi dầu hoa ngạo nghễ, Thu già thách thức sắc phô trương - HĐ)
"Theo tài liệu sưu tầm, có khoảng 130 loại hoa cúc.
Cúc còn mang tên ra Tiết Hoa hay là Nữ Tiết. Cúc chờ lạnh đến mới nở,
vùng nào lạnh sớm hoa sẽ nở sớm, lạnh muộn thì hoa nở muộn. Giống cúc
vàng thích khí lạnh hơn hết. Ở những xứ ấm trời, hoa cỏ nở một cách tạo
tác vô thời, chỉ riêng hoa Cúc là biết kỷ luật.
Hoa Cúc có mấy màu chính là vàng (hoàng), trắng (bạch), tím (tử) và hồng (cũng được gọi là hồng).Lại còn có những thứ tạp sắc, cánh trước một màu, đằng sau mang một màu khác hay là nửa bên trái và nửa bên phải khác nhau (Uyên Ương Cúc). Hoàng Cúc tức Cúc Vàng có đến 34 loại, vài giống quý có nhiều tên đẹp như: Kim Trân, Dạ Quang Châu, Lạc Hà Hoàng. Ngự Bào Hoàng, Trầm Hương Quản , Hoàng Kim Tháp, Hoàng Yến, Vạn Thọ, Kim Tiền v.v.." Mỗi loại hoa cúc khác nhau đã tự mang cho mình một ý nghĩa đặc trưng riêng của ngôn ngữ tình yêu, như
Hoa Cúc có mấy màu chính là vàng (hoàng), trắng (bạch), tím (tử) và hồng (cũng được gọi là hồng).Lại còn có những thứ tạp sắc, cánh trước một màu, đằng sau mang một màu khác hay là nửa bên trái và nửa bên phải khác nhau (Uyên Ương Cúc). Hoàng Cúc tức Cúc Vàng có đến 34 loại, vài giống quý có nhiều tên đẹp như: Kim Trân, Dạ Quang Châu, Lạc Hà Hoàng. Ngự Bào Hoàng, Trầm Hương Quản , Hoàng Kim Tháp, Hoàng Yến, Vạn Thọ, Kim Tiền v.v.." Mỗi loại hoa cúc khác nhau đã tự mang cho mình một ý nghĩa đặc trưng riêng của ngôn ngữ tình yêu, như
Hoa cúc trắng: ngây thơ và duyên dáng.
Hoa cúc tây: chín chắn, tình yêu muôn màu
Hoa cúc đại đoá: lạc quan trong nghịch cảnh
Hoa cúc tím (thạch thảo): nỗi lưu luyến khi chia tay.
Hoa cúc vàng: lòng kính yêu quý mến, nỗi hân hoan.
Hoa cúc vạn thọ: sự đau buồn, nỗi thất vọng
Hoa Cúc zinnia: nhớ đến bạn bè xa vắng
(Sưu Tầm)
Hoa cúc tây: chín chắn, tình yêu muôn màu
Hoa cúc đại đoá: lạc quan trong nghịch cảnh
Hoa cúc tím (thạch thảo): nỗi lưu luyến khi chia tay.
Hoa cúc vàng: lòng kính yêu quý mến, nỗi hân hoan.
Hoa cúc vạn thọ: sự đau buồn, nỗi thất vọng
Hoa Cúc zinnia: nhớ đến bạn bè xa vắng
(Sưu Tầm)
Trồng hoa cúc là một thú vui tao nhã của các cụ ngày
xưa. Nói đến hoa cúc là người ta thường nghĩ đến mùa Thu, hoa cúc và mùa
thu có một một sự giao tình kỳ lạ. Thu vốn mang một ấn tượng buồn,
chùng lắng tâm cảm của người, cúc đua nở trong mùa thu đã đem lại một sự
vui tươi đổi mới cho cảnh tình .
Thi sĩ Nguyễn Khuyến đặc biệt có tâm hồn mẫn cảm với
mùa thu, như qua ba bài thơ Thu Vịnh, Thu Ẩm, Thu Điếu .Đặc biệt trong
bài Thu vịnh, thi sĩ Nguyễn Khuyến cũng đã một lần nhắc nhở đến thi sĩ
Đào Tiềm của Đường Thi, một người bạn tri kỷ của hoa cúc vàng "Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra sợ thẹn với ông Đào! " :
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,
Cần trúc lơ thơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông chừng như khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra sợ thẹn với ông Đào!
Thu Vịnh (Nguyễn Khuyến)
Trước cảnh sắc muôn chiều của mùa thu với lá vàng bay,
với nước ao trong veo, với cảnh thanh tịnh, Nguyễn Khuyến cũng đã
thường nhắc nhở đến loài hoa cúc. Cúc biêu lộ sự khoan dung, khoáng đạt,
sự chung tình da diết. Cúc héo tàn nhưng chẳng lià thân, diễn đạt một
tư tưởng thanh tao, một ý niệm trung trinh của tâm hồn chẳng bao giờ
quên gốc gác cội nguồn. Thơ Nguyễn Khuyến đã thể hiện cái nhàn nhã, sự
khắng khít với thiên nhiên, tâm hồn nhẹ nhõm, xem đời tựa như áng mây
trôi, nhưng cũng đã bộc lộ nên cái nhân cách trí thức của nhà nho "Tháng rét một mình, thưa bóng bạn, Nhị thơm chẳng rữa, chạnh lòng ai " :
Xuân qua tới tấp mận cùng đào,
Lá mốc cành rêu lẩn chốn nào?
Giữ tiết dường như yên phận khó,
Dành hương cốt để đợi thu cao.
Thương thầm vườn cổ nên như vậy,
Đứng giữa hơi may mới biết nhau!
Trong sạch tấm lòng đâu dễ kiếm,
Đào Tiềm chỉ gặp lúc về hưu!
Trăm hoa đua nở, vắng ngươi hoài!
Trăm hoa tàn rồi mới thấy ngươi
Tháng rét một mình, thưa bóng bạn
Nhị thơm chẳng rữa, chạnh lòng ai
Nhấp nhô lưng giậu xanh chồi trúc
Óng ả đầu hiên mướt ngọn mai
Cất chén mỉm cười, vừa ý tớ
Bõ công vun xới đã lâu ngày
Vịnh Hoa Cúc (Nguyễn Khuyến)
Nguyễn Trãi là một nhà trí thức lớn của thời đại, ông
là người ưu thời mẫn thế, thương dân yêu nước, nhưng không màng phẩm
chức danh lợi. Ông là người đa tài, ngoài tài chính trị, kinh tế v.v..
ông còn có lòng đam mê văn chương thi ca, thơ của ông phong phú đa dạng,
đặc biệt trong những bài thơ diễn tả tình yêu thiên nhiên, đã nói lên
cái tư cách thanh cao, phóng khoáng của kẻ sĩ, nhà nho, và ông cũng đã
hơn nhiều lần nhắc nhở đến hoa cúc, như một triết lý nhân sinh trong
cuộc sống lắm nỗi đa đoan, quán triệt mọi lẽ biến đổi của thế thái nhân
tình, sự đổi dời của đất nước non sông, sự thăng trầm suy thịnh của xã
hội, kiếp đời, như muốn gửi gắm tâm tình sâu xa, bộc lộ ý chí của người
thơ không nệ hà gian khổ, chỉ muốn quên thân mình, để hy sinh cho đại
nghĩa quốc gia dân tộc. Trong "Quốc Âm Thi Tập" của Nguyễn Trãi có mấy bài thơ ca ngợi hoa Cúc:
Nào hoa chẳng bén khí đầm hâm
Có mấy bầu sương nhị mới đâm
Trùng cửu chớ hiềm thu đã muộn
Cho hay thu muộn tiết càng thơm.
(Thuật hứng - bài 15 )
Người đua nhan sắc thủa xuân dương,
Nghỉ, chờ thu: cực lạ nhường!
Hoa nhan rằng đeo danh "ẩn dật",
Thức còn phô, bạn khách văn chương.
Tính tình nào đoái bề ong bướm,
Tiết muộn chẳng nài thủa tuyết sương.
Dầu thấy xuân lan cùng lọn được,
Ai ai đều có mỗ mùi hương.
Cúc (Nguyễn Trãi)
Cõi đông còn thức xạ cho hương
Tạo hoá sinh thành khác đẳng thường
Chuốt lòng son, chăng bén tục
Bề tiết ngọc, kể chi sương
Danh thơm thượng uyển còn phen kịp
Bạn cũ đông ly ắt khá nhường
Miễn được chúa tiên yêu tụng đến
Ngày nào khá, ấy trùng dương.
Hồng Cúc (Nguyễn Trãi)
Lặng nhìn mùa hạ qua mau
Không gian quạnh vắng lá sầu nhẹ rơi
Cành nho héo rũ tường vôi
Trái tim mơ mộng chơi vơi nỗi buồn
Màu thê lương phủ kín vườn
Hoa thôi sắc thắm bờ mương hàng rào
Xa nơi xó xỉnh đồi cao
Trời thu rực rỡ vui chào ánh dương
Cúc hoa xoè cánh nở bung …
Hải Đà phỏng dịch
(Chrysanthemum -Hattie L. Knapp)
This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 639x400. |
Mỗi tiết thời thường đi đôi với một loại hoa riêng,
mùa xuân thì có hoa lan, hoa đào, mùa hạ có hoa sen, có lựu, mùa thu có
hoa cúc như là một biểu tượng đặc trưng:
Thành Tây có cảnh Bích Câu,
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen Thu Cúc, Xuân Đào,
Lựu phun lửa hạ, Mai chào gió đông.
Bích Câu Kỳ Ngộ (Khuyết danh.)
Trong những tác phẩm lớn của văn học Việt Nam, như
Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, có những
câu thơ cũng dùng hình ảnh của cúc hoa để so sánh với người con gái đẹp,
mang nét mặt buồn man mác, vẻ u sầu thầm lặng của muà thu, nên các thi
nhân thường dùng chữ "nét buồn như cúc" .
May thay giải cấu tương phùng,
Gặp tuần đố lá thoả lòng tìm hoa.
Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc, kẻ thiên tài...
(Nguyễn Du)
Ngại ngùng giợn gió e sương,
Nhìn hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai.
(Nguyễn Du)
Nói về hoa Cúc và mùa thu, có một giai thoại: tương
truyền thời trai trẻ, cụ Nguyễn Du ưa hát phường vải. Có hoa khôi tên là
Cúc đàn hay, hát ngọt, nhưng muộn chồng, cậu Chiêu Bảy (Nguyễn Du) đã
ngâm hai câu thơ ghẹo người đẹp:
"Trăm hoa đua nở mùa xuân
Cớ sao Cúc lại muộn màng về Thu?".
Nàng Cúc biết cậu Chiêu tài hoa có ý ghẹo mình bèn đáp:
"Vì chưng tham chút nhụy vàng
Cho nên Cúc phải muộn màng về Thu".
Cúc nở về thu là đang độ mãn khai đâu có muộn màng? Và ngầm nhắn gửi thi nhân "Dù có muộn màng vì ai kia" cũng là vì chờ đợi bảng vàng, bia đá mà thôi! Không rõ về sau khi "bảng hổ" đề tên chàng và nàng có nên duyên cầm sắt?
(Sưu Tầm)
Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc tác giả đã dùng hình ảnh
buồn vời vợi của mùa thu với hoa cúc vàng (hoàng hoa) để diễn tả cảnh
chia ly não nuột, bịn rịn ngỡ ngàng của kẻ ở người đi ...
Xót người lần lữa ải xa
Xót người nương chốn hoàng hoa dậm dài
(Đặng Trần Côn)
Thi sĩ Đinh Hùng đã dựa vào màu sắc đậm đà của hoa
cúc, bộc lộ sự thổn thức dâng tràn tâm tư, từ trong tiềm thức bật dậy và
rung động những dòng giao cảm phơi trải lòng mình, gần gũi và xa xôi,
chân thật và huyền hồ :
Ý chiều ngây ngất màu hoàng cúc,
Sao mắt thu buồn dáng hạ xa
Ta nhớ mà thương người sử nử,
Áo mùa thu đọng sắc kiều hoa.
Liên Tưởng (Đinh Hùng)
Thi sĩ Nguyễn Bính cũng đã dùng hình ảnh của hoa cúc,
liên hợp với mùa thu để nói sự trôi dạt nổi trôi của thân phận kiếp
người giữa cái mênh mông bát ngát của biển đời. "Nét buồn như cúc",
thu sầu với lá vàng rơi, đã đem lại nhiều gợi cảm, xúc động cho sự đổi
thay, vật đổi sao dời ...làm thổn thức tuôn trào những dòng dư lệ, khi
phải chứng kiến cảnh: "Thiên nhiên mãi xoay vòng muôn nghịch lý
,Trong Xuân sinh là Thu sát điêu tàn, Sau Hạ trưởng là Đông sầu xơ xác ,
vĩnh phúc nào là chốn hẹn nhân gian ?" (Vô Đề-Hải Đà)
Thu sang, rồi lại thu sang,
Cúc bao lần nở, lá vàng bao rơi?
Bao nhiêu vật đổi sao dời?
Đường bao dặm thẳm? hỡi người bốn phương?
Giòng Dư Lệ (Nguyễn Bính)
Cái vắng lặng, trống không, âm thầm, mênh mông của mùa
thu xa, tạo nên một chút gì mong manh, dìu dịu, mơ hồ trong tâm hồn của
người thơ . Một cái buồn chất chứa, lắng đọng, trong một cảnh thu tĩnh
mịch lạ lùng, tưởng như sẽ đi vào quên lãng, nhưng bỗng dưng một ngọn
gió thu lay lắt cánh "hoa cúc vàng lưng giậu", tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ, đủ để thức tỉnh hồn thơ qua màu sắc tươi rói của nhánh hoàng hoa, tượng trưng cho "Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên" . Cái đẹp tinh tế của hoa đã tìm thấy trong lòng người tri kỷ .
Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa
Mới tạnh mưa trưa, chiều đã tà
Buồn ở sông xanh nghe đã lại
Mơ hồ trong một tiếng chim qua.
Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm
Hây hây thục nữ mắt như thuyền.
Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.
Thu (Xuân Diệu)
"Sen mùa hạ, cúc mùa thu" hai hình ảnh tiêu
biểu của hai mùa trong trời đất, của thời tiết khác nhau, được người thơ
lấy làm hình ảnh ẩn dụ cho hoàn cảnh éo le, sự chia ly cách xa của hai
người, nói lên cái tâm trạng đau buồn, oán trách bắt nguồn từ cảnh cô
đơn đợi chờ .. "có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?" thật nặng lòng với tình nghĩa thâm sâu:
Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao hôm sao mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa ?
Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua
Vườn Xưa (Tế Hanh)
Hoa cúc, với màu hoa, hương hoa, men hoa, sắc hoa ..
đã đem lại sự tình tứ, khêu gợi qua những dòng thơ lãng mạn, với những
hình ảnh chập chờn mộng ảo, man mác âm điệu thần linh, mê hoặc qua lối
diễn tả độc đáo, gợi cảm :"Mươi bông cúc nõn chờ tay với ... Một trời thu ngủ men hoàng cúc ... Thu nhập hồn men cựa đó chăng" ... mang những âm hưởng nồng nàn và bí ẩn:
Gợn trắng ngàn mai thoảng dáng xuân
Màu trinh e lệ gió ân cần
Mươi bông cúc nõn chờt tay với
Một chút hoa đào vương gót chân
Dịu Nhẹ (Vũ Hoàng Chương)
Ngõ nhớ hoa vàng gác nhớ trăng
Chiêm bao giợn tuyết gối ngờ băng
Sương vây bể xám lòng hoang đảo
Nằm hấng thơ mưa độc vận bằng
Phới gót mùa say về ẩn hiện
Giữa đôi hàng chữ sách Khiêu Đăng
Xôn xao vò nậm bừng hương cúc
Thu nhập hồn men cựa đó chăng
Xem Truyện Quỷ (Vũ Hoàng Chương)
Hà Nội đèn treo đỏ phố phường
Sóng hồ trăng giãi bập bềnh sương
Một trời thu ngủ men hoàng cúc
Đôi bạn tình say mộng viễn phương
Kìa ý đàn trao mười nẻo gió
Đây lòng hoa mở bốn mùa hương
Ôi thôi, khoảnh khắc dâu thành bể
Gươm báu rùa thiêng cũng đoạn trường
Nhớ Cố Nhân (Vũ Hoàng Chương)
Thi sĩ Bích Khê đã dùng những ngôn từ tình sâu ý đẹp,
với nhiều hình tượng dạt dào, mênh mông, trong chuỗi âm thanh huyền diệu
để diễn tả sự trữ tình của loài hoa vàng một cách khéo léo, gợi cảm, đa
tình, vẽ nên những hình ảnh linh diệu, bồi hồi, xao xuyến, thể hiện sự
sôi nổi triền miên của khát vọng tình yêu, như một âm điệu nhạc ngân
vang trong cái huyền diệu của vũ trụ mênh mông:
Lam nhung ô ! màu lưng chừng trời;
Xanh nhung ô ! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy;
Chim yên neo mình ôm xương cây.
Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa:
Đông nam mây đùn nơi thành xa...
Oanh già theo quyên quên tin chàng !
Đào theo phù dung: thư không sang !
Ngàn khơi, ngàn khơi, ta, ngàn khơi:
Làn trăng theo chàng qua muôn nơi;
Theo chàng ta làm con chim uyên;
Làn mây theo chàng bên nhung yên.
Chàng ơi! hồn say trong mơ màng,
-- Hồn ta ? hay là hồn tình lang ?
Non Yên tên bay ngang muôn đầu...
Thâm khuê oan gì giam xuân sâu ?
-- Ai xây bờ xanh trên xương người ?!
Ai xây mồ hoa chôn đời tươi ?!
Hoàng Hoa (Bích Khê)
Thơ Lưu Trọng Lư truyền đạt cái cảm giác lạ lẫm, man
mác bâng khuâng, chập chờn giao động, người thơ đã chìm đắm trong cơn
mộng huyễn, hay đang thao thức chiêm nghiệm cái chân thật của vóc dáng
một loài hoa- đóa cúc vàng ẩn hiện dưới làn sương thu mờ ảo:
Ta mơ trong đời hay trong mộng
Vùng cúc bên ngoài đọng dưới sương
(Lưu trọng Lư)
Màu sắc của cúc nhiều loại: vàng, trắng, tím v.v..
nhưng màu vàng của cúc vẫn luôn là biểu tượng nhiều nhất, được nói nhiều
trong thơ văn Việt Nam như tình thư học trò "Tuổi Mười Ba" của Nguyên Sa:
Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Tôi thay mực cho vừa màu áo tím....
Tuổi Mười Ba (Nguyên Sa)
Sự đa dạng của cảm xúc, cái sâu xa của tình cảm, đã là
những chất liệu để nghệ thuật thành hình, đem lại cho thơ một vẻ đẹp
duyên dáng, lặng lẽ len thấm vào tâm tư người đọc, đôi khi man mác cổ
tích thần tiên, vô cùng lãng mạn cho "Một anh chàng làm thơ, mà suốt đời say rượu cúc" một cách rạo rực, đam mê:
Em sẽ về, phải không em
Có gì đâu mà khó khăn, trắc trở
Chúng mình lại đi
Trên con đường chạy dài hoa cỏ
Là những đồn phòng ngự của tình yêu
Mỗi ngón tay em
Anh vẫn gọi là một cửa đào nguyên
Và anh: sẽ trở lại nguyên hình
Một anh chàng làm thơ
Mà suốt đời say rượu cúc
Có Phải Em Về Đêm Nay (Nguyên Sa)
Thi sĩ Phạm Thiên Thư đã pha màu rất hài hòa cho màu
hoa cúc tạo nên một hình dáng rất tạo hình của loài hoa vàng. Bài thơ
như một bức tranh thủy mặc đầy mộng mơ chất ngất, quyện lẫn với thanh âm
nhạc tính làm giao động lòng người:...
con đường hoàng hoa
em mang hài lục
con đường bạch cúc
em mang hài hồng
con đường sầu đông
em đi guốc tía
anh ngồi thấm thía
cội sầu trổ bông
Guốc Tía (Phạm Thiên Thư)
"Cõi Thơ" của Phạm Thiên Thư đầy những kỷ niệm
ngọt ngào, những hương vị đậm đà, có mẹ nua già, có lều thơ nhỏ, có giàn
hoa lý, và đặc biệt là có dậu cúc vàng, đem lại những hoài niệm khó
phai nhòa trong ký ức tâm tưởng của người thơ:
em hỏi nơi ta
xin kiếm tàng hoa
điệp vàng trải ngõ
có mẹ nua già
chăm từng ngọn cỏ
có áng giang hà
trên lều thơ nhỏ
có vườn hồng đỏ
có dậu cúc vàng
có giàn hoa lý
có vồng rau lang
em vào cõi đó
xin bước dịu dàng
vì lòng ta trải
cả bông hoa vàng
Cõi Thơ (Phạm Thiên Thư)
Động Hoa Vàng của thi sĩ Phạm Thiên Thư cũng đã trải
qua bốn mùa thơ mộng của đất trời mênh mông, và mùa thu là của hoàng cúc
khai hoa nở nhụy:
Ðất Nam có lão trồng hoa
Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
Lại đem bầu ngọc ra trồng
Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân
Động Hoa Vàng (Phạm Thiên Thư)
Một nữ sĩ đã đem lại những màu sắc tươi sáng của bụi
cúc vàng, của con bướm trắng, thể hiện những ước mong, khao khát bình dị
khi đứng bên thềm ngong ngóng chờ thu đến, hồn chất ngất men say của "hoàng hoa tửu", cùng một tâm hồn đồng điệu với những thi nhân thời xưa uống rượu cúc ngắm hoa chào mừng ngày hội Trùng Dương:
Có bụi cúc vàng bên hàng dậu
Có con bướm trắng ngập ngừng bay
Em đứng bên thềm chờ thu tới
Rượu hoàng hoa chưa uống đã say.
Hoàng Hoa (Trần Mộng Tú)
Màu vàng của hoa cúc đã đem lại sự xao xuyến bồi hồi,
màu hoa hình như cũng cảm thông với nỗi đa tình, thầm yêu trộm nhớ . Khi
một người thơ thấy "áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc" và thiết
tha hơn nữa khi yêu nàng, chàng về nâng niu trồng hoa cúc, như một hình
dáng quen thuộc thân thương lúc nào cũng gần gũi đợi chờ:
Liệu chàng còn yêu em
Như ngày xưa mới gặp
Chưa dám gọi tên nhau
Đã nghe lòng say đắm
Liệu chàng còn yêu em
Như ngày xưa thơ dại
Mùa thu áo em vàng
Chàng về trồng hoa cúc
Liệu Chàng Còn Yêu Em (Trần Mộng Tú)
Hẹn hò, nhớ nhung, ước mơ, xao xuyến, rồi chia ly,
ngăn cách như mùa thu vời vợi đã cất bước ra đi, để nhà thơ nhìn bông
hoa cúc với những cánh mỏng rụng rơi, mà thầm thương tiếc, nhưng vẫn
mong mỏi đợi chờ như một giấc mơ xa:
...mùa thu đã đi rồi
Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cánh tàn ba cánh sắp sửa rơi....
(Hoàng Nhuận Cầm)
Cúc đã đem lại một số cảm xúc lạ lẫm cho thi nhân, âm
hưởng của hoa vẫn để lại một chút gì thương nhớ, còn in sâu trong tâm
khảm, hay có thể chỉ là cơn gió đến rồi bay đi, cuốn đi trong cơn lốc
lãng quên . Từ trong sâu thẳm của linh hồn, tình yêu "Cúc" (có thể là một bông hoa, hay là tên của cố nhân) "quanh năm mặc áo vàng hoa cúc , hoàng hậu yêu thương của mọi người"
trở thành ấn tượng tuyệt vời vẫn vô tình lai láng chảy về một chân trời
vô định . Cúc trong sáng, đẹp đẻ, tươi mát, đã đưa tình yêu lên ngôi
thần tượng, thầm lặng tỏa hương ngan ngát làm xao động tâm hồn lãng mạn
của thi nhân:
Em yêu tất cả loài hoa tím
tất cả loài hoa rưng rức buồn
ai ướp lòng em hương thảo mộc
em đi thơm ngát những con đường
Có phải em từ một kiếp thu
mắt xanh lấp lánh ngấn sương mù
quanh năm mặc áo vàng hoa cúc
hoàng hậu yêu thương của mọi người
Em chứa trong tim triệu áng thơ
từng lời nói mở những ước mơ
tiếng em khoan nhặt nguồn âm nhạc
thao thức lòng ai những đợi chờ
Em hỡi em yêu...hỡi tiểu thư
lòng tôi coi bộ đã hình như
ánh trăng lấp ló bên song cửa
ngắm mái tóc nằm trên áng thư
Em hỡi em yêu...hỡi nữ hoàng
áo em vàng chở nắng thu sang
bàn tay mướt rượt nhành hoa tím
tôi lạc thơ từ em liếc ngang
Áo Vàng Hoa Tím (Lê Hân)
Em ra đi như cánh chim trời bay vút giữa ngàn khơi, để
lại ai với khoảng trống bao la, nhưng rồi "Hoa cúc trái mùa vàng đến
quắt quay" bất chợt đem lại niềm an ủi, hy vọng, trong lời gọi thầm khe
khẽ "hãy trở về nghe em" vì có lẽ hoa cúc bao dung, hoa cúc độ lượng vẫn
luôn đem lại niềm tin yêu lay động hồn thơ:
Biết giấu vào đâu hai tay đầy nhớ
Những kẽ tay trơn vắng những ngón tay
Hãy trở về, nghe em! chiều độ lượng
Hoa cúc trái mùa vàng đến quắt quay
Chim sẻ lạc bầy giọng chấp chới bay
Cơn giông đã qua - chiều bơ vơ lại
Em sẽ về dẫu rồi đi xa mãi
Ta cũng bằng lòng như hoa cúc bao dung
Viết Trên Những Chiều Buồn (Hoàng Anh Tú)
Cúc đã đem lại sinh động tươi mát cho tình yêu, để cho người thơ phải đi tìm Cúc để đòi, và "yêu Cúc quá ... đến quên già"
, tình yêu Cúc trong lòng thi sĩ , mang hạnh phúc muôn màu, ngồn ngộn
sức sống, khó mà nhạt phai . Hoa và người đã đem lại mối quan hệ đẹp
nghĩa tình, đắng cay, ngọt bùi và thấm thía:
Cúc đã mùa chưa em, Cúc ơi
Anh đi tìm Cúc đấy - để đòi
Câu thơ tình đã vàng Thu lấy
Lá ngại đền anh một... chiếc rơi
Đừng hỏi tình anh sao nông nổi
Anh yêu Cúc quá... đến quên già
Lúc anh kịp nhớ mình bao tuổi
Cúc với mùa Thu đã mãi xa
Thơ gửi Cúc (Trương Nam Hương)
Cúc đã đem lại cho mùa thu biết bao vẻ đẹp . Cúc tha
thiết gắn bó với mùa thu , cúc hòa điệu giao cảm với mùa thu , đem lại
bâng khuâng xao xuyến rạo rực cho thi nhân, người thơ đã chân thành bộc
lộ trước hình ảnh trong sáng đẹp tươi của một loài hoa "thi khách trầm tư mơ dáng ngọc"
Giữa nụ Cúc vàng Thu bưóc ra
Bừng tươi lưng giậu , sáng sân nhà
Thanh thanh vạt áo đan hương sớm
Biêng biếc vành khăn cuộn nắng tà
Thi khách trầm tư mơ dáng ngọc
Người thơ ngơ ngẫn nhớ môi hoa
Nầy Em... cổ khúc ngàn năm trước
Xưa hẹn gieo vần.. có nhớ Ta ???
Huyền Thoại (Vàng Anh)
Xuân Quỳnh là một nhà thơ lãng mạn đã diễn tả tình yêu
như một khát vọng chân tình, bồi hồi và tha thiết khôn nguôi . Cúc hoa
là một hình ảnh duyên dáng, một nguồn cảm hứng trong thơ Xuân Quỳnh, hay
là nhân dáng của chính người thơ, như sự bộc lộ chân tình của Lưu Quang
Vũ, người bạn đời của Xuân Quỳnh: "Cảm ơn em, em từ miền cát gió, Về
với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng" (LQV) . Hoa Cúc chính là biểu tượng đích
thực của cái đẹp tinh tế, hồn nhiên trong vườn đời, đủ để Xuân Quỳnh
phải tha thiết, vương vấn một cách rạo rực:
Có thay đổi gì không cái màu hoa ấy
Mùa hạ qua rồi lại đến mùa thu
Thời gian đi màu hoa cũ về đâu
Nay trở lại vẫn còn như mới mẻ
Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế
Chỉ em là đã khác với em xưa
Nắng nhạt vàng, ngày đã quá trưa
Nào đâu những biển chờ nơi cuối đất
Bao ngày tháng đi về trên mái tóc
Chỉ em là đã khác với em thôi
Nhưng màu hoa đâu dễ quên nguôi
Thành phố ngợp ngày nao chiều gió dậy
Gương mặt ấy lời yêu thuở ấy
Màu hoa vàng vẫn cháy ở trong em.
Hoa cúc-1980 (Xuân Quỳnh)
"Màu hoa vàng vẫn cháy ở trong em" tạo nên ngọn lửa
tình yêu tha thiết nồng nàn, hứa hẹn khát khao trong trái tim yêu triền
miên bát ngát như trùng dương, tưởng chừng như chỉ có biển bao la mới
hiểu được lòng thuyền (Thuyền và Biển). Đó là tiếng gọi của sức mạnh
tình yêu và chỉ có người thơ mới cảm thông với tình vô biên của cúc, để
mà thao thức, suy tư " trăn trở nhiều đêm cùng hoa cúc " giữa màn sương
khói chập chùng của khung trời thu bao la bát ngát.
Vẫn con đường, vạt cỏ tuổi mười lăm
Mặt hồ rộng, gió đùa qua ké lá
Lời tình tự trăm lần trên ghế đá
Biết lời nào giả dối với lời yêu...
Tôi đã qua biết mấy buổi chiều
Bao hồi hộp, lo âu và hạnh phúc
Tôi trăn trở nhiều đêm cùng hoa cúc
Đợi tiếng gà đánh thức sự bình yên
Thơ Tình Cho Bạn Trẻ (Xuân Quỳnh)
Trằn trọc thâu đêm, cũng vì hình ảnh đáng yêu của bông
cúc vàng, với trí tưởng bay bổng, tự hỏi trong giấc mơ của người tình
phương xa, có gắn bó, thầm thương trộm nhớ loài hoa này, như nghĩa tình
quyến luyến khôn vơi "anh mơ anh có thấy em"...để suốt đời người
thơ vẫn mãi đi tìm kiếm, dù chỉ là giấc mơ xa, một chút sắc nắng vàng
nhè nhẹ trải dọc trước bờ hiên, đem lại hình ảnh sống động tượng trưng
của loài hoa cúc “Người đã ra đi khi mùa chưa hoa cúc, và ta mơ hoang một sắc nắng vàng”
Anh mơ anh có thấy em
Thấy bông cúc nhỏ nơi triền đất quê
Chiếc mo rơi ở bờ tre
Con sông thăm biển đã về rừng xưa
Đám mây về với cơn mưa
Con đường đi tới miền chưa có đường.
Hát Ru (Xuân Quỳnh)
Cúc lấp lánh vàng , đó là một sự pha màu hài hòa, đem
lại sự sinh động tươi mát cho khung trời thu vốn ảm đạm, buồn hiu hắt .
Sắc hoa cứ vàng tươi, hương hoa ngan ngát đong đưa "lùa trong áo" người
tình tạo nên một mùa thu kỳ diệu, một mùa thu mẫn cảm của hương trời
nhụy đất ngất ngây....Cái diệu ảo của hương, cái thanh tân của lá, sự
quyến rũ của màu, trong cảnh lạ của trời thu, tất cả đều để lại dấu ấn
khó nhoà phai trong cõi lòng sâu thẳm của thi nhân:
Thu đến rồi sao, vàng lá múa
Vàng bay lấp lánh mấy thu xưa
Em đi hương cúc lùa trong áo
Tay khoác lưng chiều thơm nắng mưa
Mùa Lá Chín (Hà Huyền Chi)
Tâm hồn thơ đầy hoài niệm để suốt đời ray rứt nhung nhớ, thương yêu, và hình ảnh của hoa cúc vàng vẫn gắn bó thủy chung "Hoa cúc và em quấn quýt tim người". Trời Thu Paris của thi sĩ Hà Huyền Chi đã mang một màu sắc gợi cảm, "lãng đãng men say"
, để người thơ phải lạc bước chơi vơi giữa những liên tưởng dạt dào bay
bổng. Những kỉ niệm nhẹ nhàng trôi theo nhịp điệu êm ái, cứ mãi xôn xao
đong đầy nỗi nhớ mênh mang , ấm áp lòng người..
Anh sẽ mãi nhớ vuông cửa sổ này
Trời thu Paris lạnh ngắt mầu mây
Mùa thu qua em lá vàng sắc bướm
Khói thuốc như lòng lãng đãng men say
Giọt cà phê xanh nhỏ vào tiếng hát
Anh nhắp men thu thơm những ngày sương
Mượn đỡ bờ vai ru đời tan tác
Mái tóc hoan cười nụ biếc phong hương
Vạt áo em bay thu vàng lối gió
Hoa cúc và em quấn quýt tim người
Mãi nhớ bờ vai, nhớ vuông cửa sổ
Paris và thu cùng rớt xuống đời
Paris Và Em (Hà Huyền Chi)
"Đầu thu giọng bé vàng hoa cúc ,Ta ước ngây say đến cuối đời"
..... Hoa cúc vàng hay là hình ảnh cô bé ngây thơ là nguồn cảm xúc vô
tận, mà tươi mát, nồng nàn cho thơ phải bật thốt thành lời, cho thi nhân
ngây ngất trong từng khoảng đời, cho lời tự tình dội vang từng nhịp
điệu trong không gian, thời gian vô tận, cho dù ẩn dấu ở nơi chốn nào
trong dĩ vãng, hiện tại hay tương lai, của những ngày đầu đời hay đến
cuối đời, để người thơ dựa vào đó và cảm thấy vơi đi "nỗi sầu xa xứ", và niềm vui bất chợt reo lên vì đã tìm thấy một tâm hồn đồng điệu "Ta uống từng lời ngọt ý môi, Nửa đời lận đận bỗng vèo trôi..." ...
Bé nói cho đầy những tuổi xa
Những lời tinh mật những lời hoa
Những hơi thở ấm như men rượu
Những tiếng cười chim lảnh lót ca
Bé nói cho trời xuống thấp hơn
Cho mây lang bạt tạm nguôi hờn
Cho ta với nỗi sầu xa xứ
Cơm áo phong trần bớt héo hon
Bé nói cho ngày thâu ngắn đêm
Cho ta với máy dịu dàng điên
Dặm dài dốc mỏi chân cao thấp
Nương chút ân tình để lãng quên
Giọng bé đưa ta vào dĩ vãng
Sông từng nhánh biếc chảy vào thơ
Đong đưa nhịp võng ru ngày hạ
Thoang thoảng chùm ngâu dỗ giấc trưa
Ta uống từng lời ngọt ý môi
Nửa đời lận đận bỗng vèo trôi
Đầu thu giọng bé vàng hoa cúc
Ta ước ngây say đến cuối đời
Vàng Hoa Cúc (Hà Huyền Chi)
Mùa thu với hoa cúc vàng là như thế, một thoáng hương
linh diệu, nồng đượm từ đất sâu, tha thiết từ lòng cây, thăm thẳm trong
hồn thi nhân, và bất chợt những nhánh thơ đâm chồi, nẩy lộc, đơm bông,
thể hiện những ao ước trữ tình, những mộng mơ thầm kín, những kỷ niệm
khó mờ phai trong tâm hồn của người đã một lần cất bước tình trăm năm,
như một lời tâm sự gửi gắm từ buổi ban sơ, thẹn thùng và duyên dáng:
Áo vàng hoa cúc phơi lưng dậu
Sân gió hương lùa thơm ý thu .
Ngày mai chị sẽ sang nhà khác
Năm tháng mình em gói đợi chờ ...
Em vẫn làm thơ chưa yêu đương
Mùa thu tựa cửa chưa vội vàng
Ngày mai chị sẽ sang nhà khác
Em mặc áo vàng tiễn chị sang
Em, một mình em tóc xõa sầu
Mùa thu áo mỏng dệt hoa ngâu
Môi chợt hồng lên và má ửng
Thẹn thùng, vấn vương chuyện mai sau ..
Chị ơi sao chị chẳng về thăm
Em chị, hôm nay đã biết buồn
Hồn nhiên năm cũ còn đâu nữa
Mùa thu xa rồi hết ước mong ...
Bài Thơ Mùa Thu -1960 (thơ Bích Huyền, nhạc Phạm Anh Dũng)
Không ai có thể dửng dưng với mùa thu, khi nhìn thấy
đóa cúc vàng, những màu hoa, sắc hoa, dáng hoa của những ngày xưa ngóng
đợi ..như cất lên những lời đồng cảm với người thơ, những hoài niệm
trong trí tưởng chừng như bật sáng ngời, mời mọc người thơ, bồi hồi
không yên, thêm một lần dấn thân về vùng đất cũ, tìm lại chút hương xưa
trong nỗi nhớ vô cùng ..
Giữ gì tình ơi ? đôi mắt đưa
Lạc thơ lạc cả hồn ngủ trưa
Trở về đi giòng sông ngày cũ
Có nhánh cúc vàng đợi hiên xưa .
Vàng Phai (Ấu Tím)
Về hiên xưa để tìm lại ... "cúc nở trong vườn em ...cúc nở xinh thật xinh, như vui mãi một mình, dù tình xưa mờ nhạt ..." Hình ảnh của "cúc nở xinh thật xinh"
.. vẫn mãi là hình ảnh lung linh sống động, làm tươi mát cả khung trời
tuổi thơ yêu dấu, dòng sông kỷ niệm ngọt ngào gợi nhớ, thiết tha bao ý
tình. Hồi ức chứa chan tìm về vườn xưa, nơi đó là cả một khung trời yêu
bỗng xao động, ngỡ ngàng, thổn thức trong âm điệu bâng khuâng, man mác
buồn theo nỗi "nhớ nhung nào cho vừa, khung nhạc trầm run rẩy ..." :
Cúc nở trong vườn em
Giơ tay ! xin chớ hái
Em sợ hoa cúc tàn
Mùa Thu chùng tê tái
Cúc nở xinh thật xinh
Như vui mãi một mình
Dù tình xưa mờ nhạt
Cúc vẫn xinh thật xinh
Cúc nở riêng một mình
Cả khối tình rực rỡ
Ánh nắng vàng lung linh
Thinh không ngây bỡ ngỡ .
Cúc nở bên rào thưa
Nhớ nhung nào cho vừa
Khung nhạc trầm run rẩy
Cúc lặng thầm gió đưa...
Hoàng Cúc (Ấu Tím)
Trong sương lạnh của ban mai vào đầu thu, chút nắng
sớm dịu dàng bám trên đọt cây kẽ lá của chậu cúc vàng, càng làm tăng
thêm vẽ đẹp lộng lẫy của "nữ hoàng" .. đang thầm lặng tỏa hương ..
Phải qua vườn trái cây
Mà bỗng dưng thơm lạ
Mùi hương nào khó quên
Vương vất sau vòm lá
Ôi! Bé dễ thương quá
Trái cóc - hoa cúc vàng
Bé đem theo trong giỏ
Mùi hương bay lang thang
Tôi lạc bước giữa đường
Bởi mùi hương... con gái
Thu qua là đông tới
Nao nao cùng heo may...
Bé Như Là Hoa Cúc (Trần Thị Khánh Hội)
Dù bốn mùa có tuần tự đổi thay, nhưng lòng người vẫn
thủy chung bất biến, vẫn ôm ấp hình ảnh của bông cúc vàng ăm ắp những
nỗi nhớ khó nhòa phai của mùa thu hoài niệm "Tim anh đã niệm từ vàng cúc xưa"
Mùa hè mọc cỏ may hồng
Rằng em trời nắng phải lòng trời Thu
mùa thu cúc trổ vàng như
Tim hướng dương đã nở từ lòng anh
Cuối thu người mộng áo xanh
Em làm chim nhỏ bay quanh mắt chàng
Ban ngày chim hót mây tan
Ban đêm chim mộng ru ngàn lời thơ
Ban ngày anh tỉnh giấc mơ
Thấy ra rừng trúc tàn chờ Đông sang
Mùa đông mưa có bạt ngàn ?
Tim anh đã niệm từ vàng cúc xưa
Trên trời lệ đổ giòng mưa
Sông Ngân tháng bảy bây giờ là đâu ???
thơ B.C.D.
Những hoa cúc vàng như muốn đùa cợt với chút nắng vàng
phơn phớt, không phải chỉ tô điểm cho hàng dậu, bờ rào, hiên nhà, con
đường cỏ hoa ai đi ... nhưng hoa cúc còn là sắc màu trang điểm cho tà áo
em bay, làm cho trái tim yêu phải rung lên ngàn cung bậc ..
Hoa cúc vàng trước ngõ
Ong thu về lượn quanh
Ánh bình minh mời ngỏ
Ngọn cỏ vẫn còn xanh
Gió thu về man mát
Thì thầm như gọi em
Hương thu thơm ngan ngát
Yên nằm giọt sương đêm
Hoa cúc vàng đẹp lạ
Ưỡn mình như ngóng ai
Ong bướm bay muôn ngã
Ngắm hoa vàng trang đài
Gió heo may lành lạnh
Thương mùa thu vừa qua
Riu riu thổi nhè nhẹ
Ánh nắng mai hiền hoà
Thương Mãi Mùa Thu (Nguyên Đỗ)
Cúc vẫn luôn đem lại những âm điệu triền miên, những
cảm giác hòa nhịp với tâm tư thầm lắng, cái xôn xao khó tả của lòng
người khi trời đã bắt đầu vào thu:
Lại bắt đầu mùa thu
Không lẽ gió cũng thở dài như thế
Hoa cúc nở vào say mê cũ
Những chấm lặng rực rỡ dở dang
Đâu chỉ có mùa thu mới nhắc mình buồn
Anh vẫn đâu đây trên thế gian nhưng không còn thuộc về em nữa
Như heo may dẫu nồng nàn đến thế
Mà biết đâu cúc vẫn nở trái mùa
Hoa Cúc-1996 (Đường Hải Yến)
Thu và hoa cúc đem lại sự nao nức cho lòng người, lay
động hồn thơ, tạo những âm thanh lưu luyến, những cảm xúc bộc phát, tuôn
tràn, có thể là những giọt lệ xót thương, tủi hờn cho riêng một thế
giới có thể là thất vọng chia xa, nuối tiếc ngày xưa, hay hoài vọng mong
ước gặp gỡ trong niềm hy vọng ngày mai chợt sáng. Thu và Cúc đã đem thơ
đến những miền xa xăm và sâu thẳm của tâm hồn, tạo nên những tiếng nói
kỳ diệu của con tim nhạy cảm:
Có một loài Hoa trổ nụ vàng
khi trời trở lạnh gió mùa sang
e ấp ôm tình hương thu lạnh
trao cả tình anh đón Cúc vàng ...
Tình Hoa (Tuấn Đăng)
Thu Sắp về rồi đó Cúc ơi !
Hoa Vàng áo đẹp dáng em cười
đêm nay trăng về treo đèn mộng
nguyện ước ngàn sao sáng giữa trời
Thôi em ! đừng để lệ anh rơi
thương nhớ bao lâu đã đủ rồi
thức dậy cùng anh so cung phím
anh hát ru em mãi suốt đời ...
Thu Vàng (Tuấn Đăng)
Thế là hương ổi đi chơi
Sông co mình lại, núi ngồi gầnh ơn
Sẻ đồng tụ nóc cây rơm
Ve ngưng hát, dế hãy còn rỉ rê
Góc vườn hoa cúc vàng hoe
Như từng đốm nắng mùa hè chưa tan...
Sang Thu (Mai Văn Hai)
Chân dung của tình nhân qua hình ảnh của hoa cúc vàng
như một bức họa thân quen, tiềm ẩn trong tiềm thức của người thơ, xuất
hiện đột ngột, bất ngờ đem lại nhiều thi vị ngạc nhiên, lạ lùng, trong
trí tưởng của người thơ:
bèo dạt mây trôi...
em ơi anh vẫn đợi...
Chẳng là em phía bên kia bếp lửa
Tách trà thơm không ấm nổi gian phòng
Cánh hoa cúc rũ buồn rơi rất nhẹ
Tiếng chim nào kêu lạc giữa tầng không
Vắng em rồi phía bên kia bếp lửa
Tiếng bập bùng tí tách cũng thôi vui
Bên Kia Bếp Lửa (Phan Vinh Nguyen)
Nhìn lá vàng anh ngỡ là hoa cúc
Thu đã về anh cứ tưởng Xuân sang
Vì nuối tiếc ngày xanh qua vội quá
Soi hồ Thu ánh mắt thấy ngỡ ngàng
Thu Cảm (Tân Văn)
Vài đoá Cúc vàng nở sớm mai
Long lanh nhành lá hạt sương cài
Đất trời cảnh sắc như vàng dát
Một thoáng thu về, chợt nhớ ai
Thu Sớm (Thái Bình Nam)
Cúc tần là loại hoa hình ống màu tím, thường mọc ở
đồng cỏ, bờ đê, hàng rào. Màu tím dịu dàng của dậu cúc tần đã đem lại
những cảm giác bâng khuâng ngỡ ngàng vì hoa có thể là hình ảnh, bóng
dáng của một giai nhân nào đó đã ngự trị trong tâm hồn thi nhân, phải
chăng "người là hoa của đất" (tục ngữ), nhìn hoa nhớ người, yêu người,
để rồi một mai kia gặp cảnh bẽ bàng, người đã sang ngang ..."Em giờ ... là của người ta, Của riêng tôi ... một giậu hoa cúc tần" để mà nhớ mà thương mãi một bóng hình xa xôi ngàn trùng ...
Ngày xuân bên giậu cúc tần
Chiều mưa em đứng bần thần đợi tôi
Thế rồi năm tháng cứ trôi
Giậu xanh ngày ấy, khoảng trời thu sang .
Ngày tôi tạm biệt xóm làng
Em tròn mười tám nhẹ nhàng bước chân
Chia tay bên giậu cúc tần
Em rằng năng đến đỡ đần mẹ tôi
Thế rồi cách trở xa xôi
Bờ cây ngày ấy ai người đợi ai
Bây giờ trúc đã quên mai
Mẹ tôi già yếu nào ai đỡ đần ?
Và ... cho đến một ngày xuân
Có người thiếu phụ dừng chân cổng nhà .
Em giờ ... là của người ta
Của riêng tôi ... một giậu hoa cúc tần
Của riêng tôi: phút tần ngần ...
Bên Giậu Cúc Tần (Nguyễn Ðại Nghĩa)
I'd choose to be a daisy
I'd choose to be a daisy
If I might be a flower
Closing my petals softly
At twilight's quiet hour
And waking in the morning
When fall the early dew
To welcome Heaven's bright sunshine
And Heaven's bright tear-drops too.
Anonymous Author
Xin được làm cúc trắng
Nếu tôi hóa kiếp đời hoa
Xin làm cúc trắng thướt tha dịu mềm
Trầm tư cảnh vắng chiều êm
Dịu dàng khép cánh màn đêm thẫn thờ
Vầng dương chợt động cơn mơ
Ánh mai hé mở như chờ đợi hoa
Lung linh những hạt sương sa
Cùng tia nắng mới chan hòa niềm vui
Bỗng dưng xao xuyến ngậm ngùi
Hồn hoa thổn thức khung trời lệ rơi...
Hải Đà
Cúc và Hàn Mạc Tử
Thi sĩ Hàn Mạc Tử có nhiều bài thơ trữ tình đậm đà tha
thiết với một bóng hình của một giai nhân có tên là Hoàng Cúc. Đây là
chuyện tình có thật, dù là song phương hay một chiều, nhưng hình ảnh của
kiều nữ có tên là Hoàng Thị Kim Cúc đã là động cơ đưa đến sự xúc cảm
cho hồn thơ Hàn Mạc Tử tuôn trào thành những giai điệu lãng mạn ngợi ca
một bông hoa biết nói có tên là Hoàng Cúc. Bài thơ Hồn cúc đã nói lên
mối tình tha thiết của chàng: "
Bấy lâu sát ngõ, chẳng ngăn tường
Không dám sờ tay sợ lấm hương
Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá
Muốn ôm hồn cúc ở trong sương.
Hồn Cúc (Hàn Mặc Tử)
... Năm 1936, Hoàng Cúc theo gia đình về Huế sinh
sống. Sau đó, nàng bắt đầu ăn chay trường, trở thành cư sĩ, sống cuộc
đời lặng lẽ bí ẩn. Cũng trong năm đó, Hàn Mặc Tử in tập Gái quê, là tập
thơ mới đầu tiên kể từ khi chàng bỏ làm thơ Đường luật. Mặc Tử mang theo
một số tập ra Huế, và gặp lại Hoàng Cúc trong dịp hội chợ nhưng không
dám tặng. Mặc Tử cũng tìm đến Vỹ Dạ - nơi ở của Hoàng Cúc - nhưng chỉ
đứng ngoài cổng một lúc rồi bỏ đi. Nhiều năm sau đó, hai người không còn
liên lạc gì với nhau. Một hôm, Hoàng Cúc nghe tin Mặc Tử bị bệnh phong,
liền gửi thư thăm hỏi. Quá cảm động, Mặc Tử đã sáng tác bài Đây thôn Vỹ
Dạ gửi tặng nàng. Chuyện tình Hoàng Cúc - Hàn Mặc Tử cũng có những điều
gây tranh cãi như trường hợp Mộng Cầm. ...." (tài liệu của Phan Tâm) .
Người và hoa, hoa và người, có những gắn bó mật thiết,
là những hòa hợp giữa hình ảnh, âm thanh, hương vị và màu sắc, đã là
chất liệu xúc tác mạnh mẽ cho những bài thơ của Hàn Mạc Tử ngợi ca cái
vẽ đẹp thanh tao, duyên dáng, đậm đà và nồng nàn cho loài hoa mang tên
người yêu:
Thích trồng hoa cúc để xem chơi
Cúc ngó đơn sơ, lắm mặn mòi.
Đêm vắng gần kề say chén nguyệt
Vườn thu vắng vẻ đủ mua vui
Trồng hoa cúc (Hàn Mạc Tử)
Trong Đường Thi cổ xưa, thi sĩ Đào Tiềm đã tìm đến
hoàng cúc như một người bạn tâm giao tri kỷ, thì thì sĩ Hàn Mạc Tử cũng
tha thiết ôm bóng hình của Hoàng Cúc, như một người tình trong mộng,
chập chờn ẩn hiện trong những dòng thơ cổ điển man mác, đến nao lòng.. "trong đời tri kỷ chỉ riêng ta" ..
Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa
Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha
Vẻ mặt khác chi người quốc sắc
Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta
Vịnh hoa cúc (Hàn Mặc Tử)
Bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mạc Tử đã được
khởi nguyên từ mối tình của thi nhân với Hoàng Cúc, với vẻ đẹp huyền
ảo, như thơ như mộng .Theo tài liệu của nhà văn Trần Thanh Địch, bạn
thân của thi sĩ Hàn Mạc Tử :"mối tình của nhà thơ với Cô Hoàng Thị
Kim Cúc hồi ở Qui Nhơn những năm 1932-1933. Ông thân sinh cô Cúc là viên
chức Sở Đạc Điền và Hàn Mạc Tử cũng làm việc ở đó rồi bỏ đi làm báo vài
năm ở Sài Gòn, khi Hàn Mạc Tử trở ra Qui Nhơn thì cô Kim Cúc đã về Huế ở
thôn Vĩ Dạ . Ít lâu sau, biết Hàn Mạc Tử bị bệnh nan y, có người em họ
gợi ý, Cô Cúc gửi cho Hàn Mạc Tử một tấm bưu thiếp thăm hỏi sức khỏe, và
Hàn Mạc Tử gửi bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ đáp lại với lời cám ơn"
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Diễm lệ tình em tạo dáng nhung
Bừng lên khai điệu khúc thu trùng
Trầm tư một thuở rừng thay lá
Hương sắc hoàng hoa thấm mộng trung
E ấp đồi mơ sương hé nụ
Môi thơm hoàng phái ngát triều cung
Lung linh ánh nguyệt đêm sầu tận
Thổn thức đàn hoa tiếng thủy chung ..
Hải Đà
Hoa cúc tiềm ẩn một sức sống bền bĩ, một vóc dáng
thanh tao, ung dung và điềm đạm . Cúc đem lại những màu sắc tưoi mát,
rực rỡ tô điểm cho mùa thu vốn thê lương ảm đạm. Cúc như muốn phà hơi
thở hồi sinh, mầm sống cho tiết trời, gieo niềm hoan lạc cho đời sống và
con người trong mọi nghịch cảnh, làm ấm áp lòng người. Cúc khi tàn, các
cánh lại càng gắn bó khăng khít bền chặt với nhau, tượng trưng cho tình
chung thủy, luôn tha thiết mặn nồng, dẫu cho đời dâu bể thăng trầm. Con
đường cúc hoa trải thảm đường thi, ngan ngát hương thu, man man xao
xuyến, đủ để giao động hồn thơ . Cúc không riêng là tri kỉ của người
muôn năm trước, cúc vẫn luôn là tri âm của mọi người khi trời se se
lạnh, bắt đầu vào thu ... Hình ảnh cao quí của cúc luôn đằm thắm, gần
gũi trong lòng thi nhân, ẩn hiện trong những giấc mơ lãng mạn qua những
áng thơ ca trữ tình diễm tuyệt ..
Có phải em là nữ chúa Thu ?
Khai nhan lộng lẫy chốn sa mù
Muôn loài hoa khác tiêu điều dáng
Chỉ một mình em nét đặc thù
Ngạo nghễ dưới trời sương tuyết phủ
Kiêu sa trước cuộc sống phù du
Đào Tiềm một thuở tìm tri kỷ
Chỉ có hoàng hoa sánh trượng phu
Hoàng Hoa (Hải Đà)
Thu sầu dạo khúc thê lương
Nỗi buồn từ thuở ly hương lưu đày
Mơ quê xa lắc đường dài
Hoa vàng chợt thấy gửi ai đôi lời
Gió sương ngạo nghễ hoa cười
Mặc thu tàn úa, vẫn tươi thắm ngàn
Cha xưa yêu đóa cúc vàng
Lòng con ly xứ muôn vàn nhớ Cha
Hải Đà
Hải Đà-Vương Ngọc Long
(Ghi chú: Những bài thơ trích dẫn trong bài viết này
nếu có gì lầm lẫn hoặc thiếu sót, xin tác giả hoặc độc giả vui lòng
email về : vuonghaida@yahoo.com
This e-mail address is being protected from spam bots, you need
JavaScript enabled to view it , chúng tôi sẽ xin sửa sai lại. Trân trọng
cám ơn. Hải Đà)
Sầu Thu: ý Cúc tình Thơ
Hải Đà - Vương Ngọc Long
Hoa Cúc Trong Đường Thi
Hoa
muôn màu muôn sắc là món quà Thượng Đế ban cho con người để tô điểm
cuộc sống, làm đẹp cho bức tranh thiên nhiên bốn mùa, qua những đường
nét gợi cảm, những màu sắc tinh tế, vóc dáng đa tình, hương thơm ngào
ngạt, thêm những biểu tượng độc đáo của từng loài hoa, như muốn thổ lộ
tâm tình, nỗi niềm riêng tư nào đó…"ước gì nổi gió hây hây, để cho hoa
đấy lòng đây thơm cùng" ..(bài ca dân gian Trăm Hoa) .
Nói
đến những loài hoa quí, được nhân gian ưa chuộng nhiều, người ta thường
nói đến bộ "tứ bình" (bức tranh treo ở bốn phía quanh nhà) , gồm có bốn
loại hoa: Mai, Lan, Trúc, Cúc . Hoặc nói về "tứ quí" người ta muốn ám
chỉ đến bốn loại cây cảnh : Tùng, Cúc, Trúc, Mai . Người xưa yêu hoa Cúc
vì đó là loài hoa biểu lộ đặc tính : "diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa" ,
lá không rụng khỏi cành, hoa cũng chẳng lìa thân, dù héo rũ tàn khô,
vẫn luôn bám lấy cành như người quân tử đầy chí khí suốt đời theo đuổi
lý tưởng chân chính của mình.
Hoa
Cúc biểu tượng cho tinh thần thanh cao của những kẻ sĩ muốn lánh xa
vòng tục lụy . "Cúc ngạo hàn sương", cúc vẫn hiên ngang ngạo nghễ đâm
hoa kết nhánh mặc cho sương tuyết lạnh giá bao trùm, mặc cho khí thời
khắc nghiệt vây quanh, cúc vẫn mang nét điềm đạm ung dung, cúc vẫn vương
mình đứng thẳng giữa phong trần, thách thức với bao nỗi đoạn trường
gian truân của thế sự nhân tình:
Tiếu ngạo hàn sương phô cốt cách
Khai nhan diệu sắc kháng thu thâm
Cúc Đảm Ngạo Hàn Sương (Hải Đà)
(Hoa cười kiêu ngạo giữa sương lạnh, luôn giữ phong cách cao thượng
Mở mặt vui tươi màu sắc lộng lẫy như muốn thách thức thu già)
Mở mặt vui tươi màu sắc lộng lẫy như muốn thách thức thu già)
Bàn
về hoa cúc trong đường thi, các tao nhân mặc khách thường nhắc nhở đến
thi sĩ Đào Tiềm. Đào Tiềm là nhà thơ đời Tấn, tự Uyên Minh, tính tình
cao thượng, phóng khoáng, không cầu cạnh lợi danh, ông được đề cử nhậm
chức quan ở Bành Trạch (người đương thời thường gọi ông là Đào Bành
Trạch), nhân cuối năm có một viên đốc bưu về kiểm tra công việc, và nha
lại khuyên ông ăn mặc chỉnh tề ra đón. Ông than "ta há vì năm đấu gạo mà
cong lưng vòng tay thờ bọn tiểu nhân nơi xóm sao ?", bèn treo ấn từ
quan, và ông đã làm bài "Quy khứ lai từ" để bày tỏ ý chí của mình, trong
đó có hai câu:
Tam kính tựu hoang,
Tùng cúc do tồn
(Đường ra lối nhỏ vườn hoang
Chen nhau tùng cúc xếp hàng đợi đây)
Tùng cúc do tồn
(Đường ra lối nhỏ vườn hoang
Chen nhau tùng cúc xếp hàng đợi đây)
Đào
Tiềm thành ẩn sĩ , cuộc đời đối với ông chỉ là "vân vô tâm nhi xuất tụ"
(mây hờ hững bay ra khỏi hốc núi), tâm hồn ông không còn bị xáo trộn,
chi phối bởi ngoại cảnh, nhân tình thế sự, ông chỉ thích làm bạn với
thiên nhiên, vui thú điền viên, trong cảnh nghèo, và đặc biệt là ông rất
thích trồng cúc, làm bạn với hoa cúc, và thường bắc ghế trúc ngồi bên
dậu đàm đạo với hoa hàng giờ, như muốn trang trải gửi gắm tâm hồn cùng
tri âm . Trước sân nhà ông trồng năm cây liễu, nên người ta cũng thường
gọi Đào Tiềm là "Ngũ Liễu Tiên Sinh" . Cứ đến ngày Trùng Dương (ngày lễ
hoa cúc 9-9), ông cùng bạn bè bầy rượu bên mấy dậu cúc để thưởng hoa,
ngâm vịnh, ca hát … “hái cúc dưới giậu đông, thơ thới nhìn núi nam”
(Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam sơn)
Kết lư tại nhân cảnh,
Nhi vô xa mã huyên.
Vấn quân hà năng nhĩ ?
Tâm viễn địa tự thiên.
Thái cúc đông ly hạ,
Du nhiên kiến nam sơn.
Sơn khí nhật tịch giai,
Phi điểu tương dữ hoàn.
Thử trung hữu chân ý,
Dục biện dĩ vong ngôn.
(Ẩm Tửu Thi - Đào Uyên Minh)
Nhi vô xa mã huyên.
Vấn quân hà năng nhĩ ?
Tâm viễn địa tự thiên.
Thái cúc đông ly hạ,
Du nhiên kiến nam sơn.
Sơn khí nhật tịch giai,
Phi điểu tương dữ hoàn.
Thử trung hữu chân ý,
Dục biện dĩ vong ngôn.
(Ẩm Tửu Thi - Đào Uyên Minh)
Cảnh phồn hoa dựng túp lều
Màng chi thế sự dập dìu ngựa xe
Cớ sao ta được vậy hề
Bởi lòng thanh thản nghĩ về trời xa
Dậu đông hái cúc vàng hoa
Núi nam thơ thới lòng ta cảm hoài
Sườn non khí lạnh chiều rơi
Chập chờn thấy bóng chim trời bay cao
Ý thành từ cảnh thanh tao
Sao không nói được lời nào riêng mang
(Hải Đà cảm dịch)
Màng chi thế sự dập dìu ngựa xe
Cớ sao ta được vậy hề
Bởi lòng thanh thản nghĩ về trời xa
Dậu đông hái cúc vàng hoa
Núi nam thơ thới lòng ta cảm hoài
Sườn non khí lạnh chiều rơi
Chập chờn thấy bóng chim trời bay cao
Ý thành từ cảnh thanh tao
Sao không nói được lời nào riêng mang
(Hải Đà cảm dịch)
"Hoa cúc trác việt siêu phàm. Đào Tiềm, thi nhân đời Tấn, từng thốt rằng: "Thu
cúc hữu giai sắc, ấp lộ chuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã
di thế tình" -Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta
quên tình buồn, lánh xa tình đời" (Tứ Quân Tử Trong Hội Họa Trung Quốc-Lê Anh Minh)
Nhớ
tích xưa Đào Tiềm trồng hoa cúc và yêu hoa nhất mực, thậm chí luyến
thương lá cúc khô mà vẫn bám cành "diệp bất ly thân" không chịu rụng!
Tất cả nói lên sự thủy chung, tình nghĩa gắn bó suốt đời của mỗi cá nhân
với nguồn cội sinh thành, đất mẹ vườn cha của tình máu mủ ruột thịt.
Hoa
cúc đã được các thi sĩ thời Đường, Tống Trung Hoa đưa vào thơ văn như
Vi Ứng Vật với những bài thơ điềm đạm trầm mặc, thuần thục giản dị, ít
lời nhiều ý, thường diễn tả tâm tình nhàn hạ, như bài thơ "Hiệu Đào Bành
Trạch" (bắt chước Ông Đào Bành Trạch):
Sương lạc tụy bách thảo
Thì cúc độc nghiên hoa
Vật tính hiểu như thử
Hàn thử kỷ nại hà !
Xuyết anh phiếm trọc giao
Nhật nhập hội điền gia
Tận túy mao thiềm hạ
Nhất sinh khởi tại đa ?
Hiệu Đào Bành Trạch (Vi Ứng Vật)
Thì cúc độc nghiên hoa
Vật tính hiểu như thử
Hàn thử kỷ nại hà !
Xuyết anh phiếm trọc giao
Nhật nhập hội điền gia
Tận túy mao thiềm hạ
Nhất sinh khởi tại đa ?
Hiệu Đào Bành Trạch (Vi Ứng Vật)
Sương rơi cỏ xác xơ tàn
Chỉ mình cúc nở hoa vàng thắm tươi
Trên đời muôn vật thế thôi
Mặc cho nóng lạnh tiết thời đổi thay
Ngắt hoa ngâm với rượu này
Cùng chung bạn hữu đêm nay xum vầy
Thềm tranh cụng chén mà say
Sá chi thế sự đời nay chẳng màng !
(Hải Đà phỏng dịch)
Chỉ mình cúc nở hoa vàng thắm tươi
Trên đời muôn vật thế thôi
Mặc cho nóng lạnh tiết thời đổi thay
Ngắt hoa ngâm với rượu này
Cùng chung bạn hữu đêm nay xum vầy
Thềm tranh cụng chén mà say
Sá chi thế sự đời nay chẳng màng !
(Hải Đà phỏng dịch)
Hoàng
Sào (?-884), người Sơn Đông, năm Càn Phủ Đường, Hy Tông thứ 2 (875)
cùng Vương Tiên Chi lãnh đạo nông dân khởi nghĩa, trước sau trên mười
năm, có lần đánh phá kinh đô Trường An . Là một lãnh tụ nông dân nổi
tiếng thời cổ đại Trung Quốc, thi hỏng mà có chí lớn, ông thường dùng
hoa cúc để tự ví mình, ý nói tính can trường bất khuất, giống như hoa
cúc ngạo nghễ dưới trời sương tuyết phủ, trong khi bao loài hoa khác đều
tàn úa, ngầm nói lên ý chí quyết tâm của ông muốn lật đổ triều Đường :
Táp táp tây phong mãn viện tài
Nhị hàn hương lãnh điệp nan lai
Tha niên ngã nhược vi Thanh đế
Báo dữ đào hoa nhất xứ khai
Đề cúc hoa (Hoàng Sào)
Nhị hàn hương lãnh điệp nan lai
Tha niên ngã nhược vi Thanh đế
Báo dữ đào hoa nhất xứ khai
Đề cúc hoa (Hoàng Sào)
Vườn hoa gió thổi bời bời
Hương tàn nhụy rũ bướm thời khó qua
Chúa Xuân nếu được là ta
Sang năm ta bảo đào hoa nở cùng
(Hải Đà phỏng dịch)
Hương tàn nhụy rũ bướm thời khó qua
Chúa Xuân nếu được là ta
Sang năm ta bảo đào hoa nở cùng
(Hải Đà phỏng dịch)
Hoàng
Sào có lần đã dẫn 60 vạn đại quân, đánh hạ ải Đồng Quan. Vương triều
Đường sợ hãi lúng túng, Đường Hi Tông mang phi tần chạy trốn đến Thành
Đô, Các quan lại triều Đường không kịp chạy trốn toàn bộ phải ra thành
đầu hàng. Chiều hôm ấy, Hoàng Sào ngồi kiệu vàng, được các tướng sĩ vây
chung quanh tiến vào thành Trường An. Trăm họ dân chúng trong thành giắt
già bồng trẻ, đứng chật hai bên đường chào đón. Hoàng Sào lên ngôi
hoàng đế, quốc hiệu gọi là Đại Tề. Quân khởi nghĩa trải qua bảy năm đấu
tranh cũng dành được thắng lợi, nhưng cuộc khởi nghĩa cuối cùng bị thất
bại, do nội bộ chia rẽ, và Hoàng Sào bị bộ hạ giết. Ít nhất Hoàng Sào đã
thực hiện được giấc mộng trong thơ :" từng đợt hương ngút trời thấu
suốt Trường An, khắp thành đều mặc áo giáp vàng (trích giai thoại Giấc mơ Hoa Cúc- tác giả Hoài Anh)
Đãi đắc thu lai cửu nguyệt bát
Ngã hoa khai thời bách hoa sát
Xung thiên hương trận thấu Trường An
Mãn thành đái tận hoàng kim giáp
Cúc Hoa (Hoàng Sào)
Ngã hoa khai thời bách hoa sát
Xung thiên hương trận thấu Trường An
Mãn thành đái tận hoàng kim giáp
Cúc Hoa (Hoàng Sào)
Chờ thu tháng chín về nơi
Hoa ta nở rộ hoa người tàn phai
Trường An hương ngút ngập trời
Người mang áo giáp vàng chơi khắp thành
(Hải Đà phỏng dịch)
Hoa ta nở rộ hoa người tàn phai
Trường An hương ngút ngập trời
Người mang áo giáp vàng chơi khắp thành
(Hải Đà phỏng dịch)
Đỗ
Phủ là một nhà thơ lớn, một đại thụ sừng sững trên thi đàn Trung Quốc.
Ông đã trải nghiệm qua bao thăng trầm trôi nổi trong cuộc sống, nên thơ
của ông phong phú đa dạng, thanh điệu nhẹ nhàng, hiện thực trữ tình,
phát xuất từ đời sống khốn khổ cơ hàn của chính bản thân ông và của tha
nhân bằng chính mắt thấy tai nghe hàng ngày. Ngôn ngữ thơ ông bộc phát
sự chân thành tha thiết, lòng nhân đạo trắc ẩn, nên dễ gây sự xúc động
nơi người đọc.
Nói đến hoa cúc là nói về mùa thu, cúc và thu như hình với bóng, nhà thơ Đỗ Phủ nhìn thấy chòm cúc nở dưới trời thu lạnh mà lệ thầm tức tưởi buông rơi nhớ quê nhà "tùng cúc lưỡng khai: tha nhật lệ" .... Ông đã sáng tác 8 bài Thu Hứng nổi tiếng, trong những năm cùng cực gần cuối đời, mà còn phải gối đất nằm sương , một mình ngâm nga "mao ốc vi thu phong sở phá ca" (bài hát gió thu thổi tốc mái nhà tranh" trong nghẹn ngào tức tưởi ..
Nói đến hoa cúc là nói về mùa thu, cúc và thu như hình với bóng, nhà thơ Đỗ Phủ nhìn thấy chòm cúc nở dưới trời thu lạnh mà lệ thầm tức tưởi buông rơi nhớ quê nhà "tùng cúc lưỡng khai: tha nhật lệ" .... Ông đã sáng tác 8 bài Thu Hứng nổi tiếng, trong những năm cùng cực gần cuối đời, mà còn phải gối đất nằm sương , một mình ngâm nga "mao ốc vi thu phong sở phá ca" (bài hát gió thu thổi tốc mái nhà tranh" trong nghẹn ngào tức tưởi ..
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai: tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ: cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đai xích,
Bạch đế thành cao cấp mộ châm.
Thu Hứng (Đỗ Phủ)
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai: tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ: cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đai xích,
Bạch đế thành cao cấp mộ châm.
Thu Hứng (Đỗ Phủ)
Sương ngọc điêu tàn cây lá phong
Âm u Vu Giáp lạnh như đồng
Đất trời tiếp tiếp non cùng nước
Mây gió ùn ùn núi với sông
Tùng cúc hai lần rơi lệ uất
Đò đơn một độ khóc quê ròng
Thấu xương cơn rét cần may áo
Bạch Đế chày buông tiếng chập chùng
Hải Đà phỏng dịch
Âm u Vu Giáp lạnh như đồng
Đất trời tiếp tiếp non cùng nước
Mây gió ùn ùn núi với sông
Tùng cúc hai lần rơi lệ uất
Đò đơn một độ khóc quê ròng
Thấu xương cơn rét cần may áo
Bạch Đế chày buông tiếng chập chùng
Hải Đà phỏng dịch
Trong
một bài thơ thu khác nói về ngày hội "trùng dương" , ngày lễ của hoa
cúc thay vì cùng bạn bè uống rượu, thưởng hoa, đàm đạo thi ca, nhà thơ
Đỗ Phủ lại "độc chước bôi trung tửu", lời lẽ chân thành tha thiết bộc lộ
tâm sự xót xa, vất vả đắng cay của bản thân, cảnh buồn theo lòng người
quay quắt: " lá trúc cùng người than phận lỡ, cúc vàng thuở đó chẳng đơm
hoa..."
Trùng dương độc chước bôi trung tửu
Bảo bệnh khởi đăng giang thượng đài
Trúc diệp vu nhân kí vô phận
Cúc hoa tòng thử bất tu khai
Thù phương nhật lạc huyền viên khốc
Cố quốc sương tiền bạch nhạn lai
Đệ muội tiêu điều các hà tại
Can qua suy tạ lưỡng tương thôi
Cửu Nhật Ngũ Thủ, Tuyển Nhứt (Đỗ Phủ)
Bảo bệnh khởi đăng giang thượng đài
Trúc diệp vu nhân kí vô phận
Cúc hoa tòng thử bất tu khai
Thù phương nhật lạc huyền viên khốc
Cố quốc sương tiền bạch nhạn lai
Đệ muội tiêu điều các hà tại
Can qua suy tạ lưỡng tương thôi
Cửu Nhật Ngũ Thủ, Tuyển Nhứt (Đỗ Phủ)
Trùng dương, rượu trút, một mình ta
Khổ bệnh, sông dài, dấn bước qua
Lá trúc cùng người than phận lỡ
Cúc vàng thuở đó chẳng đơm hoa
Tha phương vượn khóc tà dương xế
Quê cũ nhạn về sương sớm sa
Em gái phương nào thân tá túc ?
Bệnh căn, loạn lạc, nhiễu phiền t
Ngày Chín, Năm Bài Lựa Một (Hải Đà phỏng dịch )
Những
bài thơ tả cảnh của Đỗ Phủ rất sinh động tự nhiên, không đẽo gọt tỉ mĩ,
mà lại thanh thoát, nhẹ nhàng lưu loát, ý tứ dạt dào xen lẫn hình ảnh
đẹp thi vị, ngân vang âm điệu tràn đầy ..."thềm sân móc trắng sương rơi,
phủ đầy hoa cúc giữa trời mênh mang.."
Quang tế huyền sơ thướng
Ảnh tà luân vị an
Vi thăng cổ tái ngoại
Dĩ ẩn mộ vân đoan
Hà Hán bất cải sắc
Quan sơn không tự hàn
Đình tiền hữu bạch lộ
Ám mãn cúc hoa đoàn
Sơ nguyệt (Đỗ Phủ)
Ảnh tà luân vị an
Vi thăng cổ tái ngoại
Dĩ ẩn mộ vân đoan
Hà Hán bất cải sắc
Quan sơn không tự hàn
Đình tiền hữu bạch lộ
Ám mãn cúc hoa đoàn
Sơ nguyệt (Đỗ Phủ)
Ánh mờ trăng mới nhú lên
Nghiêng nghiêng bóng đổ chênh vênh ráng trời
Dần lên cửa ải chơi vơi
Mây chiều núp bóng nửa vời xa xa
Nguyên màu một dãi ngân hà
Quan san giá lạnh buốt da khí thời
Thềm sân móc trắng sương rơi
Phủ đầy hoa cúc giữa trời mênh mang
Trăng Non (Hải Đà phỏng dịch)
Nghiêng nghiêng bóng đổ chênh vênh ráng trời
Dần lên cửa ải chơi vơi
Mây chiều núp bóng nửa vời xa xa
Nguyên màu một dãi ngân hà
Quan san giá lạnh buốt da khí thời
Thềm sân móc trắng sương rơi
Phủ đầy hoa cúc giữa trời mênh mang
Trăng Non (Hải Đà phỏng dịch)
Vương
Duy là một bậc tài hoa của Trung Hoạ, ông vẽ rất đẹp, trong tranh của
ông là một bài thơ, và trong thơ là một bức tranh.Ông còn tinh thông âm
nhạc, giỏi đàn tì bà . Vương Duy rất sùng mộ đạo Phật, điều này đã ảnh
hưởng sâu sắc đến ngôn ngữ, tư tưởng, và phong cách thơ của ông .Bài thơ
"Tảo Thu Sơn Phong Các" ông viết để an ủi người bạn thân thiết là Bùi
Dịch, làm quan bị dèm pha nên vua cách chức, nên phải bỏ vào rừng sâu ẩn
dật. Ông đã dùng hình ảnh của Đào Lịch (tức là Đào Tiềm), người bạn tri
kỷ của hoa cúc, đã một thời không chịu nhục treo ấn từ quan , và hình
ảnh ẩn dụ của Thượng Tử Bình ngày xưa khi đọc kinh Dịch đến quẻ Tốn than
rằng: "giàu không bằng nghèo mà không lo lắng" và sau đó ông từ quan đi
ngao du sơn thủy .
Vô tài bất cảm luỵ minh thì
Tứ hướng đông khê thủ cố li
Khởi yếm Thượng Bình hôn giá tảo(1)
Khước hiềm Đào Lệnh khứ quan trì (2)
Thảo gian cung ưởng lâm thu cấp
Sơn lý thiền thanh bạc mộ bi
Tịch mịch sài môn nhân bất đáo
Không lâm độc dữ bạch vân kỳ
Tảo Thu Sơn Trung Các (Vương Duy)
Tứ hướng đông khê thủ cố li
Khởi yếm Thượng Bình hôn giá tảo(1)
Khước hiềm Đào Lệnh khứ quan trì (2)
Thảo gian cung ưởng lâm thu cấp
Sơn lý thiền thanh bạc mộ bi
Tịch mịch sài môn nhân bất đáo
Không lâm độc dữ bạch vân kỳ
Tảo Thu Sơn Trung Các (Vương Duy)
Thời thịnh phiền chi kẻ bất tài
Đông Khê hướng cũ nhắm đi hoài
Thượng Bình đâu kém tình gia thất
Đào Lệnh hiềm thua bỏ chức tài
Cỏ rậm dế rền thu vội đến
Non cao ve trỗi điệu bi ai
Thềm tranh quạnh quẽ người không viếng
Hò hẹn mình ta mây trắng bay
Thơ Làm Trong Núi Buổi Đầu Thu (Hải Đà phỏng dịch)
Đông Khê hướng cũ nhắm đi hoài
Thượng Bình đâu kém tình gia thất
Đào Lệnh hiềm thua bỏ chức tài
Cỏ rậm dế rền thu vội đến
Non cao ve trỗi điệu bi ai
Thềm tranh quạnh quẽ người không viếng
Hò hẹn mình ta mây trắng bay
Thơ Làm Trong Núi Buổi Đầu Thu (Hải Đà phỏng dịch)
Bàn về hoa cúc là phải nói đến ngày hội Trùng Dương đã được nhắc nhở nhiều trong Đường thi . Trùng dương còn gọi là "trùng cửu" tức là tiết ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, ngắm hoa uống rượu "cúc hoa tửu". Đó là thứ rượu ủ với cánh hoa cúc, khi hoa sắp tàn người ta mang nhặt bỏ những cành lá mà chỉ lấy toàn cánh hoa ủ với men rượu và một chút nước, đến năm sau vào đúng ngày Trùng Dương tức là mồng chín tháng chín mới mang ra uống. "Rượu đây vui với bạn đường, nâng ly thưởng hội trùng dương quên đời","Trùng dương hẹn lại chốn này, ngắm hoa cúc nở vui thay cảnh đời".
Hoa cúc và ngày lễ Trùng Dương đã là đề tài được nhiều nhà thơ Đường ngâm vịnh:
1-
Trùng Dương tịch thượng phú bạch cúc
Mãn viên hoa cúc uất kim hoàng, Trùng Dương tịch thượng phú bạch cúc
Trung hữu cô tùng sắc tự sương.
Hoàn tự kim triêu ca tửu tịch,
Bạch đầu ông nhập thiếu niên trường.
Bạch Cư Dị
Bạch Cư Dị
Tiệc Trùng Dương,vịnh hoa cúc trắng
Vàng hoe cúc nở đầy vườnMột chòm trắng tựa như sương lạc loài
Khác chi bàn tiệc sớm mai
Giữa thanh niên trẻ chen vai cụ già
Hải Đà phỏng dịch
Hải Đà phỏng dịch
2-
Cửu Nhật Tề Sơn Đăng Cao
Giang hàm thu ảnh nhạn sơ phi Cửu Nhật Tề Sơn Đăng Cao
Dữ khách huề hồ thướng thúy-vi
Trần thế nan phùng khai khẩu tiếu
Cúc hoa tu sáp mãn đầu qui
Đãn tương minh-đính thù giai tiết
Bất dụng đăng lâm hận lạc huy
Cố vãng kim lai chỉ như thủ
Ngưu-sơn hà tất độc triêm y *
Đỗ Mục
(*Ngưu sơn : núi ỏ nước Tề, đời Xuân thu, Tề-cảnh-Công lên núi trông về cố quốc mà khóc)
Đãn tương minh-đính thù giai tiết
Bất dụng đăng lâm hận lạc huy
Cố vãng kim lai chỉ như thủ
Ngưu-sơn hà tất độc triêm y *
Đỗ Mục
(*Ngưu sơn : núi ỏ nước Tề, đời Xuân thu, Tề-cảnh-Công lên núi trông về cố quốc mà khóc)
Lên Núi Tề Sơn Ngày Trùng Dương
Sông Thu lồng bóng nhạn mong manhBầu bạn thong dong cảnh sắc xanh
Thế tục buồn vương, môi héo nụ
Đường về cúc giắt, bước dồn nhanh
Mong sao cảnh đẹp, vui cùng rượu
Chẳng phí trèo non, cảm nắng hanh
Sự thế xưa nay trời đất chuyển
Cớ gì lên núi đứng buồn tênh
Hải Đà
Chẳng phí trèo non, cảm nắng hanh
Sự thế xưa nay trời đất chuyển
Cớ gì lên núi đứng buồn tênh
Hải Đà
3-
Thu Đăng Lan Sơn Ký Trương Ngữ
Bắc-sơn bạch vân lý Thu Đăng Lan Sơn Ký Trương Ngữ
Ẩn giả tự di duyệt
Tương vọng thí đăng cao
Tâm tùy nhạn phi diệt
Sầu nhân bạc mộ khởi
Hứng thị thanh thu phiết
Thời kiến qui thôn nhân
Sa hành độ đầu yết
Thiên biên thụ nhược tì
Giang bạn châu như nguyệt
Hà đương tái tửu lai
Cọng tùy trùng dương tiết*
Mạnh Hạo Nhiên
Sầu nhân bạc mộ khởi
Hứng thị thanh thu phiết
Thời kiến qui thôn nhân
Sa hành độ đầu yết
Thiên biên thụ nhược tì
Giang bạn châu như nguyệt
Hà đương tái tửu lai
Cọng tùy trùng dương tiết*
Mạnh Hạo Nhiên
Mùa Thu Lên Núi Lan Sơn làm thơ tặng Trương Ngữ
Núi cao mây trắng giăng đầyNgười u cư sống tháng ngày ung dung
Lên non nhìn xuống mịt mùng
Gửi lòng theo cánh nhạn trùng bay xa
Sầu nghiêng nghiêng bóng chiều tà
Trời thu biếc ngọc chan hòa ý thơ
Ai về thôn xóm thẫn thờ
Dừng chân biển cát, ngồi chờ bến sông
Hàng cây xanh đứng đợi mong
Sông quê in bóng nguyệt lồng soi gương
Rượu đây vui với bạn đường
Nâng ly thưởng hội trùng dương quên đời
Trời thu biếc ngọc chan hòa ý thơ
Ai về thôn xóm thẫn thờ
Dừng chân biển cát, ngồi chờ bến sông
Hàng cây xanh đứng đợi mong
Sông quê in bóng nguyệt lồng soi gương
Rượu đây vui với bạn đường
Nâng ly thưởng hội trùng dương quên đời
Hải Đà phỏng dịch
4-
Tràng An Thu Tịch
Vân vật thê lương phất thự lưu Tràng An Thu Tịch
Hán gia cung khuyết động cao thu
Tàn tinh kỷ điểm nhạn hoành tái
Tràng địch nhất thanh nhân ỷ lâu
Tử diễm bán khai ly cúc tĩnh
Hồng y lạc tận chử liên sầu
Lô ngư chính mỹ bất qui khứ
Không đái nam quan học Sở tù
Triệu Cổ
Tử diễm bán khai ly cúc tĩnh
Hồng y lạc tận chử liên sầu
Lô ngư chính mỹ bất qui khứ
Không đái nam quan học Sở tù
Triệu Cổ
Đêm Thu Tràng An
Ảm đạm trời thu điểm ánh thiềuHán Cung lồng lộng gió phiêu phiêu
Lưa thưa sao sớm vờn chân nhạn
Réo rắt lầu khuya lộng sáo diều
Cúc nở hoa phô vườn thắm sắc
Sen tàn nhụy úa bến đìu hiu
Sông quê mùa cá, chưa về xứ
Đày đọa phương người, phận hẩm hiu
Sen tàn nhụy úa bến đìu hiu
Sông quê mùa cá, chưa về xứ
Đày đọa phương người, phận hẩm hiu
Hải Đà phỏng dịch
5-
Quá cố nhân trang
Cố nhân cụ kê thử Quá cố nhân trang
Yêu ngã chí điền gia
Lục thụ thôn biên hợp
Thanh sơn quách ngoại tà
Khai hiên diện trường phố
Bả tửu thoại tang ma
Đãi đáo trùng dương nhật
Hoàn lai tựu cúc hoa.
Mạnh Hạo Nhiên
Khai hiên diện trường phố
Bả tửu thoại tang ma
Đãi đáo trùng dương nhật
Hoàn lai tựu cúc hoa.
Mạnh Hạo Nhiên
Qua Trại Của Bạn Cũ
Cơm gà bạn cũ mời taThong dong vườn ruộng quê nhà ghé chơi
Quanh làng cây cỏ xanh tươi
Thành xưa bóng núi biếc ngời soi nghiêng
Vườn rau xanh mát ngoài hiên
Dâu tằm chuyện gẫu, bạn hiền cùng say
Trùng dương hẹn lại chốn này
Ngắm hoa cúc nở vui thay cảnh đời
Hải Đà phỏng dịch
Dâu tằm chuyện gẫu, bạn hiền cùng say
Trùng dương hẹn lại chốn này
Ngắm hoa cúc nở vui thay cảnh đời
Hải Đà phỏng dịch
6-
Trùng Dương
Tiết vật kinh tâm lưỡng mấn hoa Trùng Dương
Đông ly không nhiễu vị khai hoa
Bách niên tương bán sĩ tam dĩ
Ngũ mẫu tựu hoang thiên nhất nha
Khởi hữu bạch y lai bác trác
Nhất tòng ô mao tư y tà
Chân thành độc toạ không bao thủ
Môn liễu tiêu tiêu táo mộ nha
Khởi hữu bạch y lai bác trác
Nhất tòng ô mao tư y tà
Chân thành độc toạ không bao thủ
Môn liễu tiêu tiêu táo mộ nha
Cao Thích
Ngày Trùng dương
Cảnh ngắm lòng kinh tóc bạc phơ
Dậu đông chưa nở cúc ven bờ Cảnh ngắm lòng kinh tóc bạc phơ
Ba phen nhậm chức đời gần cạn
Năm mẫu vườn hoang đất xa mờ
Áo trắng ai đây phường quấy nhiễu
Mũ đen ta đó ngả thân chờ
Một mình vò tóc ngồi ngơ ngác
Khóm liễu chiều kêu tiếng quạ ô
Mũ đen ta đó ngả thân chờ
Một mình vò tóc ngồi ngơ ngác
Khóm liễu chiều kêu tiếng quạ ô
Hải Đà phỏng dịch
7-
Cửu Nguyệt Cửu Nhật Ức Sơn Đông Huynh ĐệĐộc tại dị hương vi dị khách
Mỗi phùng giai tiết bội tư thân
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ
Biến sáp thù du thiểu nhất nhân
Vương Duy
Vương Duy
Ngày 9 Tháng 9 Nhớ Anh Em Sơn Đông
Quê người lạ lẫm một mình ta
Tết nhớ người thân mãi thiết tha
Vẫn biết anh em lên núi thẳm
Thù du thiếu giắt một người xa*
Hải Đà phỏng dịch
Thù du thiếu giắt một người xa*
Hải Đà phỏng dịch
*Thù du thiếu giắt một người xa:
ý nói tác giả vì phải làm thân ly khách, nơi đất lạ quê người, nên Tết Trùng Dương này không cùng với bạn bè ở phía đông núi Hoa Sơn (Sơn Đông) lên núi bẻ nhánh thù du. Ngày xưa tiết Trùng Dương 9/9, người ta hay tổ chức hội hè yến ẩm, ở nhà uống rượu cúc, khi đi chơi núi thường giắt lá thù du vào người với niềm tin là để tránh tai nạn, gọi là "kỵ tà". Thù du là loại cây thuốc có mùi thơm, giống cây tiêu dùng làm vị cay.
ý nói tác giả vì phải làm thân ly khách, nơi đất lạ quê người, nên Tết Trùng Dương này không cùng với bạn bè ở phía đông núi Hoa Sơn (Sơn Đông) lên núi bẻ nhánh thù du. Ngày xưa tiết Trùng Dương 9/9, người ta hay tổ chức hội hè yến ẩm, ở nhà uống rượu cúc, khi đi chơi núi thường giắt lá thù du vào người với niềm tin là để tránh tai nạn, gọi là "kỵ tà". Thù du là loại cây thuốc có mùi thơm, giống cây tiêu dùng làm vị cay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét